ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam được xem là quốc gia có tiềm năng phát triển nghành nghề nuôi cá biển bởi có đường bờ biển kéo dài từ Bắc xuống Nam hơn 3.260 km, với nhiều eo vịnh. Cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, được nhập vào Việt Nam vào những năm 2000. Đây là loài nuôi quan trọng tại vùng biển miền nam Trung Quốc và một số quốc gia trên thế giới, đang được tiêu thụ mạnh ở Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Mỹ, Singapore…. Ở Việt Nam cá Chim vây vàng đã được phát triển nuôi ở các tỉnh ven biển như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa.đem lại hiệu quả và năng suất cao cho người nuôi (Tổng cục thủy sản, 2015).
Cá Chim vây vàng là loài cá tương đối dễ nuôi, kháng bệnh tốt và đang trở thành đối tượng cá nuôi lợ, biển của Việt Nam. Giá cá Chim vây vàng trên thị trường hiện nay cao. Cùng với việc hoàn thiện quy trình nuôi và sản xuất giống, đối tượng cá này đang được chú trọng phát triển trở thành đối tượng nuôi sản xuất hàng hóa quy mô lớn (Tổng cục thủy sản, 2015). Tuy nhiên, gần đây tại các khu vực nuôi cá Chim vây vàng ở Việt Nam đã xảy ra hiện tượng cá nuôi chết mà không rõ nguyên nhân.
Hiện tượng cá chết xuất hiện ở hầu hết các lồng nuôi của các hộ dân tại vịnh Vân Phong, Khánh Hòa. Cá nuôi mới thả thường bị chết nhiều ở giai đoạn cá nhỏ đến cỡ cá 200 g/con, tỷ lệ chết thường chiếm 18-20%, trong tổng cả giai đoạn nuôi đến khi thu hoạch, thường chết 25-28%. Chính vì vậy để giảm thiểu dịch bệnh bùng phát, tránh lan rộng và đề ra một số giải pháp kịp thời tăng năng suất cho người nuôi, chúng tôi thực hiện đề tài “Xác định tác nhân gây chết cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii) nuôi công nghiệp tại vịnh Vân Phong tỉnh Khánh Hòa”. Đề tài này là một phần trong nhiệm vụ “Giám sát chủ động môi trường và bệnh cá, nhằm đưa ra các giải pháp tăng tỷ lệ sống cho cá nuôi quy mô công nghiệp thuộc Trang trại nuôi cá lồng biển tại vịnh Vân Phong, Khánh Hòa” của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Bước đầu xác định được tác nhân gây chết cá Chim vây vàng nuôi công nghiệp tại vịnh Vân Phong tỉnh Khánh Hòa trong vụ nuôi 2016 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề xuất được một số giải pháp nâng cao tỷ lệ sống của cá nuôi 1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Một số tác nhân có khả năng gây chết cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii) trong quá trình nuôi công nghiệp tại vịnh Vân Phong tỉnh Khánh Hòa. Trang trại nuôi cá lồng biển tại Vịnh Vân Phong Khánh Hòa. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Hiện nay cá Chim vây vàng nuôi lồng trên biển bắt đầu tăng nhanh, tuy nhiên hiện tượng cá chết rải rác và hàng loạt là rào cản lớn cho việc phát triển và mở rộng nghề nuôi cá Chim vây vàng tại Việt Nam.
Đề tài này sẽ là một trong những nghiên cứu đầu tiên về việc xác định các nguyên nhân cá Chim vây vàng chết ở quy mô công nghiệp. Đề tài sẽ chỉ ra đâu là các yếu tố quan trọng như yếu tố môi trường, tác nhân gây bệnh chính gây thiện hại lớn nhất trong suốt quá trình nuôi. Khi xác định được các vấn đề chính sẽ giúp đưa ra các đề xuất, giải pháp ngăn chặn và kiểm soát hiện tượng cá chết. Việc xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng cá chết có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn, nó sẽ giúp thúc đẩy mở rộng quy mô nuôi cá biển.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁ CHIM VÂY VÀNG 2. Vị trí phân loại Cá Chim vây vàng có vị trí trong hệ thống phân loại cá thế giới như sau: Hình 2.
Cá Chim vây vàng (Trachinotus blochii) Nguồn: http://www.au/fisheries/species-identification/inshore-estuarine- species/trevally-queenfish-kingfish/snub-nosed-dart Giới: Động vật Ngành: Vertebrata Lớp: Osteichthys Bộ: Perciformes Họ: Carangidae Giống: Trachinotus Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801) Tên tiếng việt: cá Chim vây vàng, cá sòng mũi hếch. Tên tiếng anh: snub-nose pompanos (Nguồn: trang web của FishBase) 2. Đặc điểm hình thái Cơ thể cá Chim vây vàng hơi tròn, cao, dẹp chính giữa, lưng hình vòng cung. Đầu nhỏ, chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước, trên đường 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bên vảy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6-1,7 lần, so với chiều cao đầu 3,5-4 lần.
Đầu và thân có màu trắng bạc, đỉnh đầu có màu xanh xám. Ở những cá thể trưởng thành thỉnh thoảng có màu vàng cam đặc biệt trên cơ thể nhất là vùng miệng và nửa sau của thân. Phần đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vảy nhỏ dính vào dưới da. Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi.
Phía trước đường bên có hình cung khá lớn, trên đường bên vảy không có gờ. Vây ngực tương đối ngắn, rộng, màu tối đen. Đuôi xẻ thùy, vây đuôi hình lưỡi liềm. Lưng màu xanh xám, bụng trắng bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh bạc, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn ánh bạc vàng, vây đuôi màu vàng tro (Chen, 1992; Juniyanto et al.
Phân bố tự nhiên của cá Chim vây vàng Trên thế giới cá chim vây vàng phân bố chủ yếu ở cuối Ấn Độ dương: Biển Đỏ, phía đông Châu Phi; phía tây Thái Bình Dương từ phía Nam của Nhật Bản đến Bắc Úc, trải theo hướng đông đến Samoa, Tonga, Marina và biển Marshall. (Carpenter et al. Phân bố tự nhiên của cá Chim vây vàng trên thế giới (Những khu vực màu đỏ và vàng) Nguồn: http://www. Đặc điểm sinh học của cá Chim vây vàng 2.
Tập tính sống Cá Chim vây vàng là loài cá nước ấm sống tầng giữa và tầng trên. Cá sinh trưởng tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ 22-280C với độ măn từ 3-33‰, dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng của cá 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khả năng chịu đựng nhiệt độ của cá tương đối kém, ban đêm chúng không ngừng bơi nhanh, hàng năm từ tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau là thời kì qua đông của cá, chúng thường không ăn thức ăn, dưới 160C cá ngừng bắt mồi và chết khi nhiệt độ dưới 140C trong vòng 2 ngày. Oxy hòa tan thấp nhất 2,5mg/lít.
Cá có sức đề kháng bệnh tương đối cáo và dễ dàng vận chuyển (Nguyễn Mạnh Hà, 2010). Đặc điểm dinh dưỡng Cá Chim vây vàng là loài cá ăn thịt, cá hương có răng nhỏ, cá trưởng thành răng thoái hóa. Cuống mang ngắn thưa. Đặc điểm này khiến cá có thể dùng đầu tìm thức ăn trong cát.
Giai đoạn cá bột thức ăn chủ yến là động vật phù du và các động vật đáy kích thước nhỏ. Cá con ăn các loài hai mảnh vỏ. Cá trưởng thành ăn tôm cá nhỏ…Trong điều kiện nuôi cá dài 2cm thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép xay nhỏ (Vương Xuân Lâm và cs. Đặc điểm sinh trưởng Cá Chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, nhìn chung chiều dài có thể đạt 45 - 60cm.
Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường một năm có thể đạt cỡ cá thương phẩm từ 0,5 – 0,7kg. Từ năm thứ hai trở đi mỗi năm trọng lượng tuyệt đối tăng là 1 kg (Vương Xuân Lâm và cs. Đặc điểm sinh sản Mùa sinh sản của cá Chim vây vàng từ tháng 4 đến tháng 5 và duy trì cho đến tháng 8-9. Sức sinh sản của cá thể 40-60 vạn trứng.
Trong tự nhiên cá hương 1,2 -2cm bắt đầu bơi vào vùng biển cạn, cá lớn 13 – 15cm bắt đầu di cư từ vùng biển cạn ra vùng biển sâu. Tuổi thành thục của cá Chim vây vàng qua nghiên cứu chỉ rõ: cá 1 - 2 tuổi trong buồng trứng noãn nguyên bào lần đầu tiên tiền kỳ phân liệt thành thục, cá 3 - 4 tuổi mới bắt đầu đi vào thời kỳ tiền sinh trưởng sau đó đến lịch trình phát dục bao gồm phát sinh noãn hoàn phôi bào đi chuyển và thành thục, tế bào noãn mẹ thành thục. Hiện nay, ngoài tự nhiên cá thành thục ở 7 – 8 tuổi nếu muốn cho cá thành thục sớm cần phải tiêm kích dục tố, nuôi vỗ cá bố mẹ một cách khoa học. Trong thực tiễn sản xuất chứng minh: cá Chim vây vàng 4 tuổi tuyến sinh dục đạt độ thành thục, qua đó kích thích cá có thể phóng trứng thụ tinh và ấp nở thành cá bột bình thường (Nguyễn Hữu Phụng và Đỗ Thị Như Nhung, 1995).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VÀ TÁC NHÂN GÂY BỆNH TRONG NUÔI CÁ BIỂN 2. Tình hình nghiên cứu bệnh cá biển trên thế giới Trong những năm gần đây nuôi thủy sản mặn, lợ tăng mạnh và được xem như một ngành công nghiệp thu lợi nhuận cao. Nghề nuôi cá biển càng phát triển dẫn đến mật độ nuôi và cách hình thức nuôi ngày càng nhiều dẫn đến rủi ro về dịch bệnh gây ra ngày càng cao.
Dịch bệnh đã làm thiệt hại rất lớn cho ngành nuôi biển thế giới. Năm 1993, Singapore chỉ với 2 trại cá biển thâm canh bị bệnh dịch đã làm mất đi 360,500 đô la Singapore (Chua et al. Philippine có 75% tổng trang trại nuôi cá biển bị dịch bệnh làm ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của người nuôi (Somga et al. Ở Thái Lan, có đến 80% người nuôi cá Mú cà cá Chẽm báo cáo là dịch bệnh đã gây chết 30-50% (Kanchanakhan S, 1996).
Từ năm 2001-2003, ở Columbia dịch bệnh bùng nổ ở 36 trại nuôi, hơn 12 triệu cá Hồi đại tây dương chết, tỷ lệ chết tích lũy 58%, gây thiệt hại hơn 10 triệu đô la Mỹ (Saksida, 2006). Vi khuẩn, ký sinh trùng và vi rút là những tác nhân có thể gây chết hàng loạt ở cá biển nuôi thương phẩm. Bệnh vi khuẩn trên cá biển Nhiều nghiên cứu cho thấy Vibriosis là một trong những bệnh vi khuẩn nghiêm trọng nhất đối với các loài cá biển nuôi (Egidius, 1987; Hjeltnes and Roberts, 1993; Ishimaru et al., 1996; Austin and Austin, 1999; Alcaide, 2003). Bệnh Vibriosis đã phát tán thành dịch bệnh trên cá Giò giống tại Đài Loan năm 2000 với các dấu hiệu bệnh lý như thân và đầu cá bị xuất huyết, trên thân có nhiều các vết loét, một số cá bị cụt vây.
Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tác nhân chính gây bệnh là V. alginolyticus ngoài ra còn có sự có mặt của V. parahaemolyticus (Rajan et al. Ở Singapore, vi khuẩn gây bệnh trên cá Mú là Vibrio được phân lập ra 2 loài là V.