MỞ ĐẦU Các bệnh lý do oxy hóa đang có xu hƣớng gia tăng trong xã hội phát triển. Trong số đó, rối loạn chuyển hóa lipid máu, nguyên nhân của các bệnh xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, viêm tụy, … có tỷ lệ ngày càng cao [38], [45], [47]. Chi phí để điều trị những bệnh lý mạn tính này là một gánh nặng không chỉ cho cá nhân mà còn mang tính xã hội và việc sử dụng hóa dƣợc dài ngày để điều trị còn đƣa đến nhiều tác dụng phụ nguy hại, đặc biệt là nguy cơ gây viêm gan rất cần đƣợc quan tâm. Bên cạnh đó, tình trạng tăng men gan, viêm gan do nhiều nguyên nhân khác nhau từ thực phẩm, thuốc…cũng đang ngày càng gia tăng.
Vì thế, việc tìm kiếm các liệu pháp, thuốc mới có hiệu quả và an toàn hơn là đang là một vấn đề cấp thiết. Trong nguồn nguyên liệu đến từ thiên nhiên vô cùng phong phú của thế giới nói chung và Việt nam nói riêng, có rất nhiều cây thuốc, vị thuốc có khả năng làm giảm lipid máu đã đƣợc chứng minh qua các nghiên cứu và thực tế sử dụng [12]. Đặc biệt, trong số đó có Bụp giấm (Hibiscus sabdarifa L. Malvaceae), một loài cây nhiệt đới có khả năng thích nghi với nhiều loại đất khác nhau và đã đƣợc trồng thành công ở Phú Yên, Việt Nam với quy mô rộng và đạt tiêu chuẩn VietGAP.
Đây không chỉ là nguồn nguyên liệu quý giá cho việc sản xuất chế phẩm mà còn là một phƣơng cách xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng đất khô hạn này. Bụp giấm chứa anthocyanin có tác dụng chống oxy hóa rất tốt, ngoài ra còn có alkaloid, chất đƣờng, chất khoáng, acid hữu cơ,. Bộ phận thƣờng sử dụng là đài hoa, lá và đôi khi là quả [26]. Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến Bụp giấm nhƣ: Tác dụng giảm lipid máu của các polyphenol thông qua sự ức chế quá trình tạo mỡ và thúc đẩy sự thanh thải lipid ở gan, giảm độc tính của Paracetamol trên gan (giảm tế bào số tế bào chết và sự oxy hóa tế bào), hạ huyết áp,.
Tuy nhiên, ở Việt Nam công trình nghiên cứu về tác dụng của Bụp giấm còn rất ít, chủ yếu là một số nghiên cứu về công dụng của Bụp giấm trong thực phẩm nhƣ dùng làm chất màu hoặc lên men làm nƣớc giải khát. 1 Để góp phần đƣa sản phẩm từ Bụp giấm vào việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu tác dụng hạ cholesterol và bảo vệ gan của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L. Malvaceae)”, gồm những mục tiêu cụ thể sau: Xây dựng một số tiêu chuẩn của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm. Đánh giá độc tính cấp đƣờng uống của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm trên chuột nhắt trắng.
Đánh giá tác dụng hạ lipid máu của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm trên chuột nhắt trắng tăng lipid máu bằng tyloxapol (triton WR-1339). Đánh giá tác dụng hạ lipid máu của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm trên chuột nhắt trắng tăng lipid máu bằng cholesterol. Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm trên chuột nhắt tổn thƣơng tế bào gan cấp tính bằng ethanol 40%. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Rối loạn lipid máu Theo dự đoán, đến năm 2020, trên toàn thế giới, những bệnh mạn tính sẽ chiếm tới 3/4 nguyên nhân gây ra các trƣờng hợp tử vong. Trong đó, gần 70% là những bệnh tim mạch, có liên quan đến xơ vữa động mạch. Ở nƣớc ta, bệnh vữa xơ động mạch với các biểu hiện lâm sàng nhƣ suy mạch vành, đột tử, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não. trƣớc đây ít gặp, nay đang có xu hƣớng tăng nhanh theo nhịp độ phát triển của xã hội.
Nguyên nhân của bệnh xơ vữa động mạch chủ yếu là do các rối loạn lipid máu [43]. Đặc điểm sinh lý bệnh [7] Lipid trong cơ thể đƣợc phân bố trong 2 khu vực lớn: Trong tế bào và trong huyết tƣơng. Lipid trong tế bào gồm 2 thành phần chính là lipid cấu trúc (tham gia cấu tạo màng tế bào, màng bào quan và màng nhân) và lipid dự trữ (mỡ trung tính: Triglycerid, phospholipid, cholesterol đƣợc dự trữ trong các tế bào mỡ). Lipid trong huyết tƣơng không lƣu thông dƣới dạng tự do, muốn chuyên chở chúng phải kết hợp với các thành phần khác.
Acid béo tự do (FFA: Free Fatty Acid) gắn kết với các albumin, các triglycerid, phospholipid và cholesterol đƣợc chuyên chở dƣới hình thức các tiểu phân lipoprotein). Apoprotein Cholesterol tự do Phospholipid Triglycerid, cholesteryl ester Hình 1. Cấu trúc của lipoprotein Lipoprotein đƣợc chia làm 5 lớp tùy vào tỷ trọng của chúng: (1) Chylomicron, (2) VLDL-C: Very Low Density Lipoprotein, (3) IDL-C: Intermediate Density Lipoprotein, (4) LDL-C: Low Density Lipoprotein, (5) HDL-C: High Density Lipoprotein. 3 Vận chuyển lipid ngoại sinh Triglycerid thức ăn đƣợc men lipase tụy thủy phân thành acid béo và monoglycerid.
Tại niêm mạc ruột non, các chất này đƣợc hấp thu trong các thể micelle. Trong tế bào niêm mạc ruột, tại bộ máy Golgi, triglycerid đƣợc tái tạo và cùng cholesteryl ester hình thành phần lõi của chylomicron. Sau đó, phospholipid, cholesterol tự do, apo B48, apo AI, apo AII, apo AIV tạo lớp phủ bề mặt thành tiểu phân chylomicron. Chylomicron đi vào mạch bạch máu và vận chuyển vào hệ tuần hoàn qua ống ngực.
Trong huyết tƣơng, HDL-C chuyển apo C, apo E cho chylomicron. Khi chylomicron gắn với LPL, apo CII trên bề mặt chylomicron hoạt hóa LPL, LPL hoạt hóa sẽ thủy phân triglycerid thành acid béo và monotriglycerid. Acid béo đƣợc vận chuyển vào tế bào mỡ, tế bào cơ để dự trữ dƣới dạng triglycerid hoặc sử dụng làm nguồn năng lƣợng. Cơ chế dự trữ triglycerid ở tế bào mỡ này rất quan trọng vì tế bào mỡ không có khả năng tân tạo mỡ từ glucid nhƣ ở gan.
Một số ít cholesterol ester từ HDL-C đến chylomicron nhờ men CETP. Chylomicron mất dần triglycerid trở thành chylomicron tàn dƣ (chylomicron remnant). Nhờ có apo E trên bề mặt, các tàn dƣ này đƣợc thụ thể tàn dƣ (hay còn gọi là LDL-C receptor related protein: LRP) ở gan bắt giữ. Tế bào gan dị hóa chylomicron tàn dƣ thành triglycerid dự trữ, cholesteryl ester, còn apo B48 đƣợc phân cách thành acid amin.
Nhƣ vậy, triglycerid trong thức ăn đã đƣợc đƣa đến mô mỡ và cơ dƣới dạng acid béo, còn cholesterol đƣợc đƣa đến gan để tạo acid mật. Vận chuyển lipid nội sinh Sự tạo thành và chuyển hóa VLDL-C: Triglycerid và cholesterol (do gan sản xuất hoặc gan đã lấy từ chylomicron tàn dƣ) đƣợc bao bọc bởi phospholipid, cholesterol tự do và apo B100 để tạo thành VLDL-C. Sự gắn kết này cần Microsomal triglycerid transfer protein (MTP), do đó khi bị đột biến MTP, bệnh nhân sẽ có tình trạng không có betalipoprotein (abetalipoproteinemia) mặc dù sự sản xuất ra apo E0 vẫn bình thƣờng. Ở ngƣời bình thƣờng, kích thƣớc VLDL-C phụ thuộc vào lƣợng triglycerid ở tế bào gan (lƣợng cholesterol không ảnh hƣởng đến vấn đề này).
Nếu lƣợng triglycerid nhiều, VLDL-C có kích thƣớc lớn, nếu lƣợng triglycerid ít, VLDL- C có kích thƣớc nhỏ. Khác với chylomicron, phần lớn cholesterol trong lõi của 4 VLDL-C là cholesterol tự do. Vì tốc độ sản xuất ra B100 tƣơng đối ít thay đổi nên số lƣợng VLDL-C lƣu hành trong máu cũng ít thay đổi, do đó khi ăn nhiều mỡ hoặc gan sản xuất nhiều triglycerid thì chỉ có kích thƣớc VLDL-C thay đổi mà thôi. Ở những bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2, béo phì, nghiện rƣợu, tăng triglycerid có tính gia đình, ngƣời ta nhận thấy VLDL-C có kích thƣớc lớn, trong khi các bệnh lý tăng lipid máu phối hợp có tính gia đình, tăng betalipoprotein máu lại có tình trạng tăng số lƣợng VLDL-C.
Sau khi VLDL-C vào máu, nó đƣợc HDL-C chuyển giao một số apo E và apo C. Khi VLDL-C gắn với LPL, apo CII trên bề mặt của VLDL-C hoạt hóa LPL, sau đó LPL thủy phân triglycerid của VLDL-C thành glycerol và acid béo. Acid béo đƣợc đƣa đến các tế bào để dùng làm năng lƣợng, tại tế bào mỡ, acid béo lại đƣợc kết hợp với glycerol thành triglycerid dự trữ. Sau khi thủy phân triglycerid, apo CII rời khỏi VLDL-C và lại bị HDL-C bắt giữ.
Sau khi bị lấy bớt triglycerid, VLDL-C xẹp dần. Cholesterol, phospholipid, apo E trên bề mặt đƣợc chuyển cho HDL-C. VLDL-C trở thành IDL-C hay còn gọi là VLDL-C tàn dƣ (VLDL-C remnant). Một phần nhỏ IDL-C bị gan bắt giữ bởi LDL- C receptor (nhờ apo B100 và apoE) hoặc remnant receptor (nhờ apoE).
Phần lớn IDL-C bị lấy bớt triglycerid, apoprotein trở thành LDL-C. Thƣờng thì những IDL-C có nguồn gốc từ VLDL-C lớn đều bị gan bắt giữ chứ không chuyển thành LDL-C. Chỉ có những IDL-C bắt nguồn từ VLDL-C kích thƣớc nhỏ mới chuyển hóa tiếp thành LDL-C nhờ apo E và HTGL. Khi thiếu hụt apo E hay HTGL sẽ gây ra tình trạng ứ đọng IDL-C trong huyết tƣơng.
Chuyển hóa LDL-C: Đa số VLDL-C đƣợc chuyển hóa thành LDL-C. LDL-C chỉ có một apoprotein duy nhất đó là apo B100, do đó LDL-C chủ yếu đƣợc thanh lọc qua con đƣờng LDL-C receptor (75% LDL-C). LDL-C receptor là một glycoprotein có trọng lƣợng phân tử khoảng 160 kDa, có trên bề mặt của hầu hết các tế bào trong cơ thể. Tế bào của tuyến thƣợng thận (nơi cần nhiều cholesterol đến tổng hợp hormone) có mật độ LDL-C receptor cao nhất.
Số lƣợng LDL-C receptor ở tế bào gan nhiều nhất trong cơ thể (2/3 số lƣợng LDL-C đƣợc thanh lọc ở gan) và số lƣợng này tùy 5 thuộc vào số lƣợng LDL-C lƣu hành trong máu, nếu LDL-C cao thì số lƣợng receptor tăng và ngƣợc lại, đây chính là cơ chế điều hòa sự ổn định của cholesterol. Khi LDL-C gắn vào LDL-C receptor, cả 2 đƣợc đƣa vào nội bào, sau đó LDL-C đƣợc đƣa đến lysosome còn LDL-C receptor quay trở lại bề mặt tế bào để tái sử dụng. Tại lysosome, thành phần protein của LDL-C là apo B100 bị thoái hóa thành acid amin hay oligopeptid, cholesterol ester bị thủy phân thành cholesterol tự do và đƣợc dùng để tổng hợp màng tế bào, hormone, acid mật, nếu dƣ thì cholesterol tự do lại đƣợc ester hóa để dự trữ dƣới dạng những giọt nhỏ, khi đó những LDL-C receptor bị thoái hóa để tránh trƣờng hợp quá tải cholesterol cho tế bào. Thời gian bán hủy của nó khá dài (2-3 ngày).
Tóm lại, nếu chylomicron là chiếc xe chuyên chở triglycerid ngoại sinh đến mô mỡ và cơ, triglycerid, cholesterol ngoại sinh đến gan thì VLDL-C chuyên chở triglycerid nội sinh và LDL-C chuyên chở cholesterol nội sinh đến các tế bào của cơ thể. Khi LDL-C dƣ thừa, LDL-C bị peroxide hóa lipid và đƣợc nhận diện qua các thụ thể dọn dẹp (scavenger) của thành mạch và đại thực bào.