MỞ ĐẦU PHẦN II. NỘI DUNG Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 PHẦN II. NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lipid và chuyển hóa lipid 1.
Khái niệm và các thành phần của lipid Lipid hay chất béo là những este giữa acid béo và alcol, những hợp chất hữu cơ này tồn tại trong tế bào sinh vật, đa dạng về chức năng sinh học và thành phần cấu tạo hóa học, có tỷ trọng nhẹ hơn nƣớc và đặc biệt không hòa tan trong nƣớc (có thể gây tình trạng tắc mạch máu nếu kết hợp với protein), nhƣng tan trong các dung môi hữu cơ, không phân cực (hexan). Với đặc tính không tan trong nƣớc nên lipid trong huyết tƣơng không tự di chuyển đƣợc dƣới dạng tự do mà phải gắn với các protein đặc hiệu tạo thành các tiểu phần lipoprotein (LP). Các lipid phổ biến trong tự nhiên đƣợc tìm thấy ở cả thực vật (dầu thực vật) và động vật (mỡ động vật). Ở nhiệt độ phòng, lipid động vật thƣờng ở trạng thái rắn (do chứa chủ yếu các gốc acid béo no) trong khi lipid thực vật chủ yếu ở trạng thái lỏng (do chứa chủ yếu gốc acid béo không no).
Lipid là nguồn nhiên liệu cần thiết, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp đủ năng lƣợng cần thiết cho toàn bộ hoạt động sống của cơ thể. Sản xuất và dự trữ năng lƣợng cho cơ thể là vai trò chính của chất béo. Trung bình 1g lipid = 9 calo, trong khi đó 1g carbohydrate và protein chỉ có 4 calo. Phải có đến 50% số năng lƣợng mà cơ thể con ngƣời sử dụng trong các hoạt động hàng ngày là lấy từ lipid.
Nếu mỗi ngày bạn hấp thụ quá nhiều calo thì chúng sẽ trở thành năng lƣợng không sử dụng ngay hay dƣ thừa, nó đƣợc cơ thể cất giữ theo dạng lipid và đẩy vào các tế bào mỡ. Dạng dự trữ là triglycerid (mỡ trung tính) đƣợc tích lũy trong các tế bào hay còn gọi là mô mỡ, khi cơ thể cần sẽ tách khỏi mô mỡ. Sự thoái hóa triglyceride cung cấp 5 khá nhiều năng lƣợng (9,3 Kcal/gam triglyceride). Tuy nhiên, khi lipid thoái hóa chƣa thể tạo ra ngay năng lƣợng để cơ thể sử dụng mà nó phải trải qua rất nhiều các khâu trung gian mới tạo thành ATP.
Các triglycerid đƣợc tạo thành từ acid béo và glycerol, sau khi thủy phân glycerol sẽ đi vào chu trình Krebs thông qua quá trình chuyển từ acid pyruvic thành các acetyl CoA còn các acid béo sẽ đi theo con đƣờng oxy hóa bao gồm các vòng phân cắt một đoạn 2 nguyên tử cacbon của phân tử acid béo. Năng lƣợng đƣợc tạo ra khi phân giải hoàn toàn acid béo và nó đƣợc dự trữ dƣới dạng ATP [2]. Ngoài ra, lipid có một số vai trò quan trọng nhƣ: là thành phần cấu tạo các màng sinh học, chất mang điện tử, sắc tố hấp thụ ánh sáng, các vitamin tan trong chất béo. Lipid có 2 nhóm chính là: Nhóm đƣợc cấu tạo từ nguyên tử hydro (H), carbon (C), oxy (O) gọi là lipid đơn giản và nhóm lipid phức tạp cũng đƣợc tạo từ nguyên tử C, H, O và còn có thêm các thành phần khác nhƣ P, S… Để di chuyển trong máu và cung cấp đến các tế bào khắp cơ thể, các phức hợp lipid này cần đƣợc vận chuyển bởi các apoprotein tạo thành nhóm lipoprotein.
Có 4 nhóm lipoprotein chính trong máu theo kích thƣớc là: Chylomicron (vi thể dƣỡng chấp) vận chuyển triglyceride ngoại sinh từ ruột đến gan và tổ chức; VLDL (lipoprotein tỉ trọng rất thấp) vận chuyển triglyceride nội sinh từ gan đến tổ chức; LDL (lipoprotein tỉ trọng thấp) vận chuyển cholesterol từ gan đến tổ chức; HDL (lipoprotein tỉ trọng cao) vận chuyển cholsterol từ tổ chức đến gan. Trong cơ thể ngƣời lipid gồm 3 thành phần chính là triglyceride, cholesterol và phospholipid: - Triglyceride (TG): hay còn đƣợc gọi là mỡ trung tính, TG đƣợc sinh tổng hợp tại gan và đƣợc tái tổng hợp chủ yếu tại ống tiêu hóa, sau đó đi vào máu dƣới dạng lipoprotein; đƣợc cấu tạo bởi một phân tử glyxerol (rƣợu bậc ba) đƣợc ester hóa với ba phân tử của acid béo. TG là chất béo dự trữ có vai 6 trò quan trọng cho cả động vật (mỡ) và thực vật (dầu), tạo ra năng lƣợng cho cơ thể sử dụng nhờ tác dụng của enzyme lipoprotein lipase. Acid béo tự do từ phản ứng thủy phân TG sẽ đƣợc dự trữ tại mô hoặc oxy hóa tại cơ.
Để đánh giá sức khỏe tim mạch ngƣời ta dựa vào chỉ số triglyceride. Bởi khi chỉ số triglyceride tăng cao sẽ làm cứng động mạch hoặc dày thành động mạch (xơ cứng động mạch), máu khó lƣu thông trong mạch dẫn đến nguy cơ đột quỵ cao, kéo theo tình trạng đau tim và các bệnh về tim. Ngoài ra, triglyceride quá cao cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng viêm tụy cấp. - Cholesterol: Cholesterol có cấu trúc vòng steroid, là thành phần chủ yếu của màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể, có vai trò hỗ trợ bảo vệ tính lỏng của màng ổn định khi nhiệt độ dao động rộng hơn.
Cholesterol đƣợc hình thành từ 2 nguồn: Từ nguồn thức ăn hằng ngày chiếm khoảng 25% nhu cầu cholesterol trong cơ thể (đó là khi chúng ta ăn các loại thức ăn có nguồn gốc từ động vật nhƣ thịt, sữa, bơ, phomat, trứng, nội tạng động vật. Còn lại 75% cholesterol là do gan tạo ra (gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ các chất khác nhƣ đƣờng, đạm). Cholesterol có 2 loại chính: LDL-C (Lipoprotein tỉ trọng thấp kết hợp với cholesterol) còn gọi là cholesterol xấu và HDL-C (Lipoprotein tỉ trọng cao kết hợp với cholesterol) hay còn gọi là cholesterol tốt. Cholesterol là tiền chất chính để tổng hợp vitamin D, hoocmon steroid (aldosterone ở tuyến thƣợng thận) và hoocmon sinh dục (progesterone, estrogen, testosterone).
Cholesterol có đặc điểm kém tan trong nƣớc đồng thời nó không thể tan và di chuyển ở dạng tự do trong máu. Do đó, để nó đƣợc vận chuyển trong máu thì phải nhờ một loại protein vận chuyển có tên là lipoprotein. Cholesterol kết hợp với 2 loại lipoprotein chính và chúng lại có đặc điểm gây ra tác dụng trái ngƣợc nhau: loại có trọng lƣợng phân tử cao đƣợc viết tắt là HDL (high density lipoprotein) khi HDL kết hợp với cholesterol (HDL- C) thì nó giúp cơ thể chống lại quá trình xơ vữa động mạch 7 nên đƣợc gọi là cholesterol tốt vì; ngƣợc lại loại có trọng lƣợng phân tử thấp đƣợc viết tắt là LDL (low density lipoprotein) khi LDL kết hợp với cholesterol (LDL- C) thì lại gây ra xơ vữa động mạch nên đƣợc gọi là cholesterol xấu. Để hoạt động của các tế bào diễn ra bình thƣờng, nồng độ cholesterol trong máu luôn phải đƣợc duy trì ở một lƣợng nhất định.
Khi nồng độ cholesterol dƣ thừa thì sẽ có thể bị đọng lại và gây ra một số bệnh ở tim, mạch máu. - Phospholipid: Phospholipid là một loại lipid thuộc nhóm phân cực và là thành phần chính cấu tạo nên tất cả các màng tế bào hay còn gọi là màng phospholipid. Phân tử phospholipid có cấu trúc gồm 1 phân tử glixerol liên kết với 2 phân tử acid béo ở một đầu còn gọi là "đuôi kỵ nƣớc", đầu còn lại liên kết với nhóm photphat đƣợc gọi là "đầu ƣa nƣớc". Phospholipid tập trung nhiều ở tế bào thần kinh, tế bào não, tim, gan, tuyến sinh dục.
Phospholipid có vai trò tích cực khi tham gia vào quá trình chuyển hóa tế bào và chuyển hóa mỡ. Ngoài ra nó còn tác động tới việc hấp thu chất béo và sử dụng chất béo, phospholipid còn là yếu tố quan trọng trong, quá trình điều hòa chuyển hóa cholesterol. Tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa lipid Tiêu hóa, hấp thu lipid là một quá trình không đơn giản mà diễn ra khá phức tạp, nó không giống với quá trình tiêu hóa, hấp thu của chất đạm và chất đƣờng. Lipid kị nƣớc nên nó có xu hƣớng tách khỏi hệ dịch tiêu hóa.
Trong khi đó, enzyme tiêu hóa lipid (enzyme lipase) thì lại ƣa nƣớc. Do vậy, để chất béo đƣợc trộn với, dịch tiêu hóa (chủ yếu là nƣớc) trong quá trình tiêu hóa lipid thì cần những phân tử đặc biệt trợ giúp. Mục đích của tiêu hóa lipid là cắt nhỏ triglyceride thành những phân tử nhỏ nhƣ: monoglyceride, acid béo và glycerol mà cơ thể có thể hấp thu đƣợc. 8 Quá trình tiêu hóa lipid diễn ra trong cơ thể đƣợc bắt đầu từ khoang miệng rồi tuần tự đến dạ dày và ruột theo con đƣờng tiêu hóa.
Thông quá quá trình tiêu hóa hóa học (nhờ tuyến nƣớc bọt tiết ra enzym lipase) mà sự tiêu hóa lipid khoang miệng bắt đầu diễn ra. Khi lipid di chuyển xuống phía dạ dày thì quá trình biến đổi hóa học vẫn tiếp tục nhờ enzym lipase của dạ dày, quá trình biến đổi cơ học mới bắt đầu. Ở dạ dày, sự co bóp của dạ dày làm cho chất béo,nổi ở lớp phía trên so với những thành phần khác của thức ăn. Lipid đƣợc khuấy mạnh và trộn đều với hỗn hợp, trong dạ dày là nhờ quá trình co bóp của dạ dày và sự tống xuất có chu kì nhũ trấp qua lỗ môn vị.
Nhờ hoạt động này đã giúp enzyme lipase trong dạ dày đƣợc tiếp xúc với chất béo và enzyme lipase chủ yếu tác động lên các acid béo có chuỗi ngắn. Chất béo đƣợc tiêu hóa ở dạ dày là rất ít, còn lại hầu hết quá trình tiêu hóa chất béo diễn ra ở ruột non. Enzyme tiêu hóa lipid (lipase ) chủ yếu nằm ở ruột non, lipase phụ thuộc vào muối mật và lipase của dịch tụy. Các tế bào thành, ruột non cũng tiết một ít enzyme lipase.
Enzyme lipase là enzyme tiêu hóa chất béo, còn mật chỉ là chất hỗ trợ. Lipase là một enzyme quan trọng trong việc tiêu hóa, vận chuyển và thủy phân lipid. Lipase tồn tại ở hầu hết mọi cơ thể sống, giữ vai trò quan trọng trong quá trình, trao đổi chất, hấp thu và chuyển hóa lipid. Ví dụ ở ngƣời, lipase tụy là enzyme chính phá vỡ chất béo trong hệ thống tiêu hóa của con ngƣời, chuyển hóa triglyceride thành monoglyceride và hai acid béo; lipoprotein lipase có vai trò quan trọng trong việc phân giải triglyceride thành acid béo tự do cung cấp cho tế bào.
Mật đƣợc tế bào gan tổng hợp từ cholesterol trong cơ thể, khoảng 0.5 ml dịch mật sản xuất ra trong 24 giờ, đƣợc dự trữ ở túi mật. Tại túi mật, nƣớc đƣợc tái hấp thu, làm cho dịch mật cô đặc từ 10 đến 15 lần. Trong bữa ăn, mật theo ống dẫn mật đổ vào tá tràng cùng với dịch tụy. Mật chứa acid mật, phospholipid, cholesterol.