ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa; tồn tại hơn 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ; nguyên nhân do mạch máu não, không do chấn thương [1]. Bệnh xảy ra khi một phần não bộ bị tổn thương do tắc nghẽn mạch máu não gây đột quỵ nhồi máu não hoặc vỡ mạch máu não gây đột quỵ xuất huyết não. Trong đột quỵ, não không được cung cấp đủ năng lượng nên một vùng não sẽ ngừng hoạt động và kéo theo mất khả năng điều khiển các cơ quan khác, có thể gây liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, mất ý thức và hôn mê. Nếu bệnh nhân không được cấp cứu kịp thời, đúng cách thì vùng não sẽ chết và người bệnh có thể tử vong [1], [2].
Ngày nay, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong thứ hai trên toàn cầu và là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ảnh hưởng đến khoảng 13,7 triệu người và giết chết 5,5 triệu người mỗi năm [2]. Hiện nay, chi phí điều trị đột quỵ não chiếm khoảng 3-4% tổng chi phí chăm sóc y tế toàn cầu [3]. Đột quỵ não đòi hỏi phải được theo dõi, chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị hợp lý; tuy nhiên, việc điều trị còn nhiều hạn chế. Cho đến nay, thuốc hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (rt-PA, recombinant tissue type plasminogen activator) là thuốc được cấp phép trong điều trị đột quỵ nhồi máu não với khả năng làm tan cục máu đông và phục hồi sự tưới máu đến vùng não bị thiếu máu.
Tuy nhiên, rt-PA có giới hạn phạm vi tác dụng trong vòng 4,5 giờ tính từ thời điểm bắt đầu bị nhồi máu não và việc sử dụng các thuốc này có nguy cơ gây tử vong do xuất huyết não [3]. Do vậy, có nhu cầu lớn trong việc phát triển các liệu pháp mới để điều trị đột quỵ nhồi máu não. Các nghiên cứu đã công bố thành phần chủ yếu của vỏ hạt đậu xanh là flavonoid, trong đó flavonoid chính là vitexin và isovitexin [4], [5], [6], [7], [8]. Vitexin là hoạt chất đang được quan tâm gần đây có nhiều tác dụng dược lý như chống oxy hóa, chống ung thư, chống viêm, chống tăng huyết áp và bảo vệ thần kinh.
Isovitexin là một đồng phân của vitexin, thường được phân lập cùng với vitexin, cũng được chứng minh có hoạt tính sinh học đa dạng [9]. Bên cạnh đó, cao chiết từ vỏ hạt đậu xanh đã được chứng minh là có tác dụng bảo vệ thần kinh trong bệnh Alzheimer, chống viêm, bảo vệ tế bào gan, hạ 1 đường huyết trên mô hình thực nghiệm trên chuột [10], [11], [12], [13], [14], tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết từ vỏ hạt đậu xanh trên mô hình đột quỵ Để làm sáng tỏ tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết từ vỏ hạt đậu xanh, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết vỏ hạt đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) trên mô hình đột quỵ não thực nghiệm” được tiến hành với mục tiêu: - Đánh giá được tác dụng bảo vệ thần kinh của cao chiết vỏ hạt đậu xanh trên mô hình gây tắc động mạch não giữa chuột nhắt thực nghiệm. - Bước đầu đánh giá cơ chế bảo vệ tế bào thần kinh của cao chiết vỏ hạt đậu xanh.1 Khái niệm và phân loại của đột quỳ não Đột quỵ não là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa; tồn tại hơn 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ; nguyên nhân do mạch máu não, không do chấn thương [1]. Đến nay, có nhiều tác nhân là yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
Các tác nhân được kể đến bao gồm tuổi cao, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền. Ngoài ra, một số bệnh lý cũng là yếu tố nguy cơ của đột quỵ gồm tăng huyết áp; bệnh tim mạch; đái tháo đường; tăng cholesterol máu; tiền sử có cơn đột quỵ thoáng qua; đau nửa đầu; nghiện rượu, thuốc lá; dùng thuốc tránh thai [2]. Theo kết quả của các báo cáo trong Hội nghị đột quỵ năm 2022 được tổ chức tại Hà Nội, nghiên cứu trên 2310 bệnh nhân đột quỵ tại 10 Trung tâm đột quỵ trên toàn quốc cho thấy độ tuổi trung bình người dân Việt Nam bị đột quỵ khoảng 65. Số lượng bệnh nhân đột quỵ dưới 45 tuổi chiếm 7,2%.
Điều đáng lưu ý là tỷ lệ nam gặp đột quỵ nhiều hơn gấp 1,5 lần so với nữ, trong khi đó ở nước ngoài là tỷ lệ nữ bị đột quỵ nhiều hơn nam. Triệu chứng: Rối loạn cảm giác hoặc vận động của một vùng cơ thể (tê, liệt) ở mặt, chân, tay đặc biệt nhất là liệt 1/2 người. Rồi loạn thị lực (nhìn mờ hoặc mù đột ngột). Rối bạn về ngôn ngữ (nói ngọng hoặc thất ngôn).
Rối loạn tri giác (lẫn lộn, kích thích vật vã, hôn mê). Các triệu chứng rất thay đổi tùy thuộc vào đột quỵ do tắc mạch hay xuất huyết não, vị trí não bị tổn thương và độ rộng của vùng não bị tổn thương [54]. Trên lâm sàng, đột quỵ được chia thành hai thể chính như sau: - Nhồi máu não: Xảy ra khi động mạch cung cấp máu giàu oxy cho não bị tắc nghẽn, gồm đột quỵ lấp mạch là loại nhồi máu não có cục máu đông (huyết khối) hình thành trong một động mạch cung cấp máu cho não và nhồi máu não nghẽn mạch là loại đột quỵ mà cục máu đông hoặc chất khác (như mảng xơ vữa) theo dòng máu đi đến và làm tắc động mạch trong não [15]. 3 - Xuất huyết não: Xảy ra khi một động mạch trong não bị rò rỉ máu hoặc vỡ.
Áp lực từ rò rỉ máu sẽ phá hủy các tế bào não. Chảy máu não gồm chảy máu nội sọ; chảy máu khoang dưới nhện và chảy máu não thất [15]. Như vậy, khái niệm về đột quỵ không bao gồm chảy máu dưới màng cứng, tụ máu ngoài màng cứng, chảy máu não hoặc nhồi máu não do nguyên nhân chấn thương, nhiễm trùng hay u não. Theo thống kê tại các nước phát triển, khoảng 87% các trường hợp đột quỵ thuộc loại thiếu máu não cục bộ hay nhồi máu não [2].
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu được báo cáo trong Hội nghị Đột quỵ năm 2022 chỉ ra rằng tỷ lệ nhồi máu não là 76% và chảy máu não là 24%.2 Cơ chế bệnh sinh của nhồi máu não Cơ chế bệnh sinh nhồi máu não được trình bày trên hình 1.1 Cơ chế bệnh sinh nhồi máu não [16]. Quá trình thiếu máu Nhồi máu não là quá trình phức tạp bao gồm giảm năng lượng, mất cân bằng ion nội mô tế bào, nhiễm toan, tăng nồng độ calci nội bào, kích thích gây độc tế bào, tạo ra 4 các gốc tự do, các sản phẩm của acid arachidonic, giải phóng các cytokin, phá vỡ tính toàn vẹn của hàng rào máu não, kích hoạt các tế bào thần kinh đệm và xâm nhập của bạch cầu [17]. Khi não bị thiếu máu, nhiều rối loạn liên tiếp xảy ra, tạo vòng xoắn bệnh lý gây tổn thương tế bào làm tế bào rối loạn chức năng hoặc chết. Quá trình này xảy ra rất nhanh, ngay sau khi não bị thiếu máu từ vài giây tới vài phút.
Màng tế bào bị tổn thương dẫn tới rối loạn chức năng điện sinh học của màng tế bào, phù não. Đây cũng là nguyên nhân gây tổn thương não trong những ngày tiếp theo [18]. Hiện tƣợng tranh tối tranh sáng Tắc mạch não cấp tính gây ra các vùng thiếu máu cục bộ không đồng nhất. Các vùng có lưu lượng máu não dưới 10 ml/100g mô/phút được gọi vùng lõi hay trung tâm ổ nhồi máu và ở vùng này, tế bào não sẽ hoại tử sau vài phút nhồi máu não.
Khu vực ngoại biên của ổ nhồi máu (lưu lượng máu não <25 mL/100g mô/phút) hay còn gọi là vùng rìa ổ nhồi máu mà ở đây, tế bào não có thể tồn tại trong vài giờ vì vẫn còn được tưới máu [18]. Vùng này được gọi là vùng tranh tối tranh sáng. Đây là vùng quan trọng trong điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết trong vòng 3 đến 4,5 giờ đầu kể từ khi khởi phát đột quỵ [19]. Ảnh hƣởng của nhồi máu não ở cấp tế bào Ảnh hưởng nhồi máu não ở cấp độ tế bào được trình bày trên hình 1.2 Ảnh hƣởng nhồi máu não ở cấp độ tế bào [2] Các ảnh hưởng của thiếu máu não ở cấp độ tế bào bao gồm: Kích thích gây độc tế bào: Kích thích gây độc tế bào gây ra bởi sự tích tụ quá mức các acid amin kích thích dẫn đến sự gia tăng độc tính của calci nội bào.
Như một chất truyền tin thứ hai, calci kích hoạt nhiều con đường truyền tín hiệu, cuối cùng dẫn đến hoại tử và chết tế bào theo chương trình. Ngay sau khi giảm dòng máu lên não, kênh phụ thuộc năng lượng -ATP bị ức chế dẫn đến mất cân bằng của nhiều ion bao gồm natri, clo, calci. Những ion này cũng có thể bị gián đoạn do sự kích thích quá mức các thụ thể của glutamat của acid 1-amino-3-hydroxy-5-methyl-4-isoxazol propionic và thụ thể của acid N-methyl-d-aspartic (NMDA). Tất cả đều là receptor của glutamat, một chất dẫn truyền thần kinh kích thích trong não.
Vì vậy các tế bào khử cực hơn và gây ra nhiều dòng calci và giải phóng glutamat nhiều hơn. Dòng ion có thể dẫn đến phù cấp tế bào và thêm vào đó, calci kích hoạt các sự kiện phụ thuộc calci và cuối cùng gây chết tế bào [17], [20]. Stress oxy hoá: Stress oxy hoá xảy ra khi mất cân bằng giữa việc sản xuất các gốc tự do và các chất chống oxy hoá nội sinh. Các gốc tự do bao gồm anion superoxid ( -), gốc hydroxyl (OH ), hydro peroxid ( ), nitric oxid (NO).
Trong đó - được tạo ra 6 sớm nhất và OH gây độc nhiều nhất. Trong quá trình đột quỵ do thiếu máu não cục bộ, anion superoxid là một gốc tự do được tạo ra chủ yếu thông qua một số con đường bao gồm quá trình vận chuyển điện tử của ty thể, hệ thống xanthin oxidase, đây là nguồn chính tạo ra các gốc tự do trong thiếu máu não và tái tưới máu; chuyển hoá acid arachidonic thông qua con đường cyclooxygenase. được hình thành từ anion superoxid và là nguồn gốc của OH [8]. NO được tạo ra từ L-arginin bởi các enzym tổng hợp NO (NO synthase, NOS) phụ thuộc.
Dạng đồng phân nNOS cần calci/calmodulin để kích hoạt, được tìm thấy trong não.