Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Tổng quan; trình bày về bối cảnh và nhận dạng vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu; đồng thời, nêu ý nghĩa của nghiên cứu cũng như kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo nghiên cứu. Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến tài sản thương hiệu và kết quả nghiên cứu trước đây về tài sản thương hiệu của ngân hàng.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn lý thuyết Kích thích – Chủ thể- Phản hồi (S-O-R) và đề xuất các khái niệm đo lường cũng như mô hình nghiên cứu sẽ thực hiện. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Nội dung của chương 3 bao gồm các bước trong quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, kích thước của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm gồm mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu, phân tích, đánh giá đo lường thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị. Chương này sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao trải nghiệm, cảm xúc khách hàng và tài sản thương hiệu của ngân hàng. Tài liệu tham khảo Trình bày các tài liệu tham khảo trong và ngoài nước có trích dẫn trong nghiên cứu.
Phụ lục Phần này sẽ đính kèm các nội dung cần thiết trong quá trình thực hiện nghiên cứu và xử lý số liệu nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU 2.1 Tài sản thương hiệu và lược khảo các nghiên cứu liên quan trong bối cảnh ngân hàng 2.1 Khái niệm tài sản thương hiệu và sự phát triển khái niệm: Tài sản thương hiệu được xuất hiện lần đầu trong nghiên cứu của Kevin Lane Keller giới thiệu vào giữa những năm 60 của thế kỉ XX (Ali & Muqadas, 2015). Theo đó khái niệm này ngày càng dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị, và mỗi tác giả đã tiếp cận và phát triển khái niệm “Tài sản thương hiệu” theo nhiều quan điểm khác nhau. Được tranh luận ở nhiều góc độ khác nhau, để hiểu được rõ hơn về “tài sản thương hiệu” Keller (2003) đã phân loại theo hai cách tiếp cận chính: Tài sản thương hiệu dựa trên cơ sở tài chính và tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng.
Tài sản thương hiệu từ cơ sở tài chính đặt mục tiêu tạo ra một thương hiệu có giá trị tách biệt so với toàn bộ giá trị tài sản của một công ty, nghĩa là tài sản thương hiệu được coi là một tài sản riêng biệt. Tài sản thương hiệu có thể được sử dụng làm sơ sở để đánh giá mức hiệu quả nội bộ của một công ty hoặc cho các kế hoạch sáp nhập từ bên ngoài của doanh nghiệp (Feldwick, 1996). Feldwick (1996) đã phân loại các phương pháp tiến cận về tài sản thương hiệu dưới góc độ tài chính gồm: dựa vào bảng cân đối kế toán, mức độ trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu và mô tả về hiệp hội người tiêu dùng và các giả định về thương hiệu. Khái niệm tài sản thương hiệu còn được xây dựng dựa trên “tập hợp tài sản và nợ phải trả được liên kết với tên thương hiệu và biểu tượng cộng hoặc trừ từ tỷ lệ giá trị được cung cấp bởi một sản phẩm hoặc dịch vụ cho một công ty hay khách hàng của công ty đó” (Aaker, 1996).
Theo Ogilvy (1983) và Kotler (1994) thương hiệu có thể được hiểu như là tổng tài sản phi vật thể của sản phẩm như: tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, nhãn hiệu, slogan, hình vẽ, lịch sử phát triển, danh tiếng của sản phẩm, cách chúng được quảng cáo hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để nhận biết sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. 7 Tương tự, Srivastava & Shocker (1991) tài sản thương hiệu là tập hợp các hành vi, thái độ của người tiêu dùng, các kênh phân phối, quảng cáo ảnh hưởng đến lợi nhuận có được trong tương lai và dòng tiền dài hạn. Cũng nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tài sản thương hiệu, Davis (1995) định nghĩa tài sản thương hiệu là những đóng góp chiến lược và lợi ích của thương hiệu tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Ngoài ra, Imeson (2008) xây dựng thương hiệu là một yếu tố cơ bản nhất trong tính bền vững của doanh nghiệp từ khi xây dựng, phát triển, trưởng thành, và suy thoái bằng chu kì vòng đời doanh nghiệp.
Tài sản thương hiệu giúp doanh nghiệp xác định tiềm năng tăng trưởng, thâm nhập vào những thị trường mới và gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong một nghiên cứu khác, Lim & cộng sự (2020) đã dựa trên quan điểm tài chính của các nghiên cứu Baalbaki & Guzman (2016); Veloutsou & Guzman (2017) và Yu & cộng sự (2018), giá trị thương hiệu được định nghĩa bằng giá trị gia tăng mà thương hiệu tạo ra so với giá trị của sản phẩm không có thương hiệu để tập trung vào việc sử dụng thương mại một cách hiệu quả nhất. Tóm lại, theo quan điểm của tài sản thương hiệu đối với doanh nghiệp dựa trên khía cạnh tài chính (giá trị tài sản tài chính mà thương hiệu tạo ra cho doanh nghiệp), tài sản thương hiệu được định nghĩa là giá trị tạo ra về lợi nhuận và dòng tiền cho doanh nghiệp (Buil & cộng sự, 2008) hoặc là sự gia tăng dòng tiền tích lũy của sản phẩm có thương hiệu so với sản phẩm không thương hiệu (Simon & Sullivan, 1993). Tuy nhiên, cách tiếp cận này không giúp ích nhiều cho các nhà quản trị trong việc sử dụng và phát triển giá trị thương hiệu (Kim & cộng sự, 2008).
Theo quan điểm thương hiệu dựa vào khách hàng, tài sản thương hiệu được định nghĩa là tài sản trên sự nhận biết thương hiệu của khách hàng và được tập trung vào khách hàng để có thể đánh giá được tài sản thương hiệu đó có giá trị cao hay thấp. Thông qua sự liên kết và nhận thức của khách hàng đối với từng thương hiệu, cụ thể sẽ tăng thêm giá trị cho sản phẩm theo từng loại thương hiệu khác nhau (Winters, 1991). Theo Winters (1991) tài sản thương hiệu được định nghĩa là giá trị gia tăng cho một sản phẩm do sự nhận thức tích cực của người tiêu dùng về một tên thương hiệu cụ thể. 8 Đồng thời, Winters (1991) còn dựa trên cở sở khách hàng (Customer - Based brand equity), nghĩa là tài sản thương hiệu xem đánh giá của khách hàng làm trọng tâm.
Thông qua sự liên tưởng và nhận thức của khách hàng dành cho từng loại thương hiệu cụ thể, sẽ làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm. Hay, tài sản thương hiệu là ý kiến của khách hàng về thương hiệu (Blackston, 1992). Bên cạnh đó, Aaker (1991) và Keller (1993) đã khẳng định rằng giá trị thương hiệu dựa trên người tiêu dùng - là phản ứng của người tiêu dùng đối với các hoạt động marketing của một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể. Ngoài ra, Aaker (1991) định nghĩa tài sản thương hiệu là giá trị tăng thêm do thương hiệu mang lại, bao gồm nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, lòng trung thành thương hiệu, sự liên tưởng thương hiệu với các tài sản thương hiệu khác.
Tương tự, nghiên cứu Kotler (1994) cũng định nghĩa: “Thương hiệu có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”. Để khẳng định về tài sản thương hiệu nghiên cứu của Bhattacharya & Lodish (2000) đã cho rằng tài sản thương hiệu là những gì còn lại của sở thích và lựa chọn của người tiêu dùng sau khi loại trừ các đặc tính khách quan của sản phẩm vật chất. Không ngừng ở đó, nghiên cứu của Yoo & Donthu (2001) coi tài sản thương hiệu là một giá trị gia tăng của tên thương hiệu vào sản phẩm. Người tiêu dùng có thể nhận thức sự khác biệt của thương hiệu trong danh mục sản phẩm để tạo ra giá trị và sự khác biệt của thương hiệu từ đó sẽ có ý nghĩa đến từ các thành phần tài sản thương hiệu.
So với giá trị thương hiệu trên cơ sở tài chính, giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng được các nhà nghiên cứu lựa chọn để đánh giá và phân tích nhiều hơn (Cobb - Walgren & cộng sự, 1995) vì mọi hoạt động phải bắt nguồn và xuất phát từ khách hàng. Với quan điểm tiếp cận theo tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng, tài sản thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra sức mạnh trong tâm trí của người tiêu dùng – những tác động của cảm xúc và trải nghiệm khách hàng đến tài sản thương hiệu theo thời gian (Kamakura & Russell, 1991). Khi tài sản thương hiệu “gia tăng” là lúc mà sản phẩm 9 của thương hiệu nhận được đánh giá tốt trong lời nói, suy nghĩ, hành động và cử chỉ của người tiêu dùng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó sẽ có doanh số, doanh thu, lợi nhuận cao. Ngược lại, khi tài sản thương hiệu “suy giảm” là lúc mà sản phẩm của thương hiệu nhận được ít đánh giá, bị quên lãng đi trong lời nói, suy nghĩ và hành động, cử chỉ của người tiêu dùng.
Vì vậy, việc gia tăng giá trị tài sản thương hiệu còn nhằm giảm bớt chi phí và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Keller (2003) đã phát triển thang đo tài sản thương hiệu là khái niệm đa chiều và cần có sự kết hợp các thành phần khác nhau, điều này giúp tăng độ phù hợp của thang đo và khả năng chuẩn đoán của mô hình trong nghiên cứu marketing. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã dựa trên khái niệm tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng của Keller (2003) và mô hình Kích thích – Chủ thể - Phản hồi (S-O-R) để đo lường mô hình tác động của trải nghiệm và cảm xúc của khách hàng đến tài sản thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng. Qua đó, nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất một số vấn đề trọng tâm trong việc phát triển giá trị tài sản thương hiệu của ngân hàng qua trải nghiệm và cảm xúc của khách hàng.