Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích Chương 5: Kết luận và giải pháp CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Cơ sở lý luận đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong mỗi bài nghiên cứu. Ở chương 2 này, em trình bày lý thuyết một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, cơ sở lý thuyết về các nhân tô ảnh hưởng đến việc đạt tỷ suất lợi nhuận của các NĐTCN, tổng quan các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước và đê xuât xây dựng mô hình nghiên cứu cho khóa luận. Một số khái niệm liên quan 2. Nhà dau tư cá nhân Theo Investopedia, nhà đầu tư cá nhân thường là một nhà đầu tư không chuyên nghiệp.
Họ thực hiện giao dịch đầu tư thông qua các công ty môi giới truyền thống hoặc trực tuyến. Các NDTCN mua chứng khoán cho tài khoản cá nhân của họ và thường giao dịch với số lượng nhỏ hơn đáng kể so với các NDTCN tổ chức. NDTCN bán lẻ là một NDTCN không chuyên nghiệp đầu tư tiền vào tài khoản của chính họ, thường thông qua các công ty môi giới truyền thống hoặc trực tuyến. Họ có thé đầu tư với tư cách là một NDTCN tích cực, tự mình phân bồ tiền và thực hiện các giao dịch hoặc họ có thể thuê một chuyên gia, chăng hạn như một nhà hoạch định tài chính hoặc cố van dé giám sát quá trình ra quyết định đầu tư.
Giao dịch bán lẻ thường bao gồm các giao dịch tương đối nhỏ, có thé lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn đô la. Mặt khác, các NDTCN tổ chức, chang hạn như các quỹ đầu cơ, có thé di chuyền nhiều triệu đô la với mỗi giao dịch. “NĐTCN trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có NĐTCN nước ngoài là thành viên/cổ động. Ma tổ chức kinh tế gm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, các tổ chức khác thực hiện dau tư kinh doanh” (theo khoản 20 Điều 3 Luật Đầu tư 2020).
Các NĐTCN bắt đầu bằng cách mở tài khoản môi giới với nhà môi giới truyền thống hoặc trực tuyến. Các nhà môi giới trực tuyến có thé cung cấp tài khoản tự động hoặc tài khoản cố vấn robo, có thé giúp các NĐTCN thích cách tiếp cận thực tế dé thành lập danh mục đầu tư. Các NĐTCN chuyền tiền vào tài khoản môi giới của họ và sau đó mua và bán chứng khoán, bao gồm nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, quỹ hoán đổi (ETF), quỹ tương hỗ 10 và quỹ chỉ SỐ. Ngoài ra, họ có thể nhờ một chuyên gia tài chính thay mặt họ thực hiện việc mua và bán.
Các NĐTCN có thể phải trả phí đầu tư để thực hiện giao dịch, đặc biệt là khi làm việc với một chuyên gia. Bởi vì các NDTCN nhỏ lẻ có xu hướng thực hiện các giao dịch nhỏ hơn, các khoản phí này có thé tương đối cao. Điều đó nói rằng, nhiều công ty môi giới trực tuyến đã loại bỏ phí đối với các cá nhân thực hiện giao dịch đối với một số chứng khoán như cô phiếu. Các NDTCN có thể giảm thiểu tác động của phí bằng cách tránh các giao dịch thường xuyên và giữ các khoản đầu tư trong thời gian dài.
Các NĐTCN thường được phân biệt dựa trên nguồn lực của họ. Hầu hết sẽ có số tiền tương đối khiêm tốn dé đầu tư. Những cá nhân khác, giàu có hơn sẽ có số tiền lớn hơn. Thuật ngữ nhà đầu cá nhân có thể được sử dụng để chỉ tất cả các NĐTCN, nhưng phô biến là thuật ngữ này được sử dụng dé chỉ các NDTCN với nguồn lực đầu tư khiêm tốn.
Nhiều công ty đầu tư phân biệt giữa khách hang bán lẻ của họ, khách hàng giàu có hơn với số tiền lớn hơn và NDTCN có giá trị ròng cao và siêu cao với số lượng tài sản có thé đầu tư lớn nhất. Không có tiêu chuẩn xác định trong ngành dé phân loại các NDTCN theo tài sản có thé đầu tư; mỗi công ty đầu tư chỉ định các danh mục và giá trị của riêng mình trong các danh mục đó. Ví dụ: một công ty có thể sử dụng bốn danh mục (bán lẻ, đại chúng, giá trị ròng cao và giá trị ròng cực cao), trong khi một công ty khác có thể sử dụng sáu danh mục (bán lẻ, giàu có, giàu có, giá trị ròng cao, giá trị ròng rất cao, và cực kỳ sung túc). Các công ty sử dụng cùng một danh mục có thê có các điểm giới hạn khác nhau.
Các NĐTCN khác nhau về mức độ hiểu biết và chuyên môn đầu tu của ho. Một số NDTCN có kiến thức và chuyên môn đầu tư tương đối hạn chế, và những NDTCN khác có kiến thức hơn, có thé là do học vấn hoặc kinh nghiệm làm việc của họ. Bởi vì các NĐTCN thường được coi là ít hiểu biết và ít kinh nghiệm hơn các NDTCN tổ chức, các cơ quan quan lý ở nhiều quốc gia cố gang bảo vệ họ băng cách đưa ra các hạn chế đối với các khoản đầu tư có thể bán cho họ. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC), kế từ năm 2013, hạn chế đầu tư vào các quỹ đầu cơ đối với các NDTCN được công nhận.
Một cá nhân đủ điều kiện là 11 NDTCN được công nhận nếu người đó kiếm được thu nhập từ 200.000 đô la trở lên trong mỗi hai năm trước đó và kỳ vọng hợp lý sẽ kiếm được ít nhất 200.000 đô la trong năm hiện tại hoặc có (một mình hoặc cùng với vợ / chồng) giá trị ròng (không bao gồm nơi ở chính của người đó) lớn hon 1 triệu đô la. Hạn chế này có lẽ dựa trên logic rằng các NĐTCN giàu có hơn phải có kiến thức đầu tư cao hơn hoặc ít nhất là có khả năng chỉ trả cho lời khuyên tốt hơn và có khả năng chịu rủi ro tốt hơn. Các NĐTCN có kiến thức và mức thu nhập, nhưng có một số đặc điểm chính của một NDTCN bán lẻ. Quan trọng nhất, các NDTCN nhỏ lẻ dang dau tư bằng tài chính cá nhân của họ và giao dịch với số tiền nhỏ hơn nhiều so với các NĐTCN chuyên nghiệp.
Bat kỳ biến động nào trong danh mục dau tư của họ đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự giàu có của họ, trái ngược với nhà môi giới hoặc nhà quản lý quỹ đầu cơ, những người đang đưa ra quyết định thay mặt cho khách hàng của họ. Do những biến động trên TTCK liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của các NDTCN, ho thường có lo lắng thua lỗ. Tommy Mancuso, người sáng lập và chủ tịch của The BAD Investment Company, nói rằng do e ngại thua lỗ, "khi có những thời điểm biến động, chúng ta có thể thấy một chút quyết định phi lý từ một NĐTCN trong khi một tổ chức sẽ có quá trình suy nghĩ nhiều hơn một chút". Đa số NĐTCN coi TTCK là một lĩnh vực rủi ro cao.
Ho tập trung vào ngắn hạn hơn là phần thưởng dài hạn. Do đó, biến động giá là điều NDTCN thiếu kinh nghiệm lo ngại nhất. Do đó, NDTCN theo dõi chặt chẽ thị trường, chờ đợi và ghi lại dữ liệu để xác định thời điểm bán và thời điểm mua. NDTCN thường tụ tập thành các nhóm lớn dé tranh luận, tiếp cận dé đặt câu hỏi và thăm dò.
NDTCN dé thay đổi suy đoán, thay đôi tâm trí khi đối mặt với tin đồn và sự tin tưởng, quý trọng những người có chuyên môn tư vấn, và thể hiện sự ghê tởm và phẫn nộ khi lời khuyên không hiệu quả. Có một đặc điểm là NĐTCN không thích thể hiện cảm xúc của mình. Khi chứng khoán tăng giá, họ thích vỗ tay và cười sảng khoái, sẵn sàng đầu tư thêm vào phiên sau. Khi giá giảm, họ biểu lộ cảm xúc.
Theo dữ liệu trước đó, việc tìm ra một công thức chung dé dự báo hành động của các NĐTCN là vô cùng khó khăn. Mục đích của nghiên cứu này là xác định các 12 yêu tô ảnh hưởng đến TSLN của NĐTCN, từ đó hỗ trợ họ xây dựng chiến lược đầu tư. Đầu tư đề cập đến cam kết của các quỹ hiện tại với dự đoán một số tỷ suất sinh lợi tích cực trong tương lai. NDTCN là người phân bổ vốn với kỳ vọng thu được lợi nhuận tài chính.
Có ba loại NDTCN cu thé là NDTCN bảo thủ, NDTCN ôn hòa và hiếu chiến. Theo định nghĩa, TTCK bao gồm một bên mua và một bên bán. TTCK bao gồm một số lượng rất lớn các NĐTCN, mỗi người đều có động cơ riêng dé trở thành người mua và người bán. Theo các lý thuyết thị trường truyền thống (Al- Tamimi, 2006).
Không chỉ các thị trường không hoạt động theo nguyên lý của lý thuyết tiện ích kỳ vọng. Các NDTCN tu xem xét nhu cầu dau tư, mục tiêu, tầm nhìn và những hạn chế trong thời gian giao dịch cô phiếu. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể đưa ra quyết định đầu tư thành công. Thái độ của họ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tổ khác nhau như cổ tức, chiến lược tiếp cận nhanh chóng, câu chuyện của các NĐTCN thành công, giao dịch trực tuyến, chương trình nâng cao nhận thức của NĐTCN, kinh nghiệm của các NĐTCN thành công khác, v.
Hiểu rõ hơn về quy trình và kết quả hành vi là điều quan trọng đối với các nhà lập kế hoạch tài chính vì hiểu biết về cách các NDTCN phản ứng chung với các chuyền động của thị trường sẽ giúp các cố van đầu tư đưa ra các chiến lược phân bồ tài sản phù hop cho khách hàng (AlTamimi & Hussein, 2006). Thị trường chứng khoán TTCK được biết đến là thị trường thứ cấp nằm ở phía bên kia của phân khúc thị trường thuộc thị trường vốn. Nó bao gồm tat cả các chứng khoán có thể chuyên nhượng do các DN phát hành trước đó; các chứng khoán đó cũng được giao dịch trên TTCK. TTCK không bao gồm chứng khoán của công ty tư nhân vì chúng không có khả năng giao dịch trên TTCK và không phải là chứng khoán thị trường do những hạn chế về khả năng chuyển nhượng.
Dé có được lợi ích từ TTCK, các cơ quan công ty nên niêm yết chứng khoán trên TTCK. TTCK bao gồm các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh chứng khoán, dù tốt hay xấu, nhằm đảm bảo tính thanh khoản và khả năng thị trường. Chỉ chứng khoán của các DN hiện có mới có 13 thé giao dịch trên TTCK bat kể tổ chức phát hành là tổ chức DN hay chính phủ (Vaidya, 2000). TTCK là một thị trường nơi các NDT trao đôi cô phiếu thuộc các DN được niêm yết trên sàn chứng khoán.