Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền miệng điện tử Chương 2: Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kiến nghị và đề xuất 13 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN MIỆNG ĐIỆN TỬ 2.1 Khái niệm và đặc điểm truyền miệng điện tử 2.1 Khái niệm về truyền miệng điện tử Trước đây khi Internet chưa phát triển thì người tiêu dùng thường chia sẻ kinh nghiệm thông qua truyền miệng truyền thống (WOM) tức là thảo luận, đánh giá, nhận xét với bạn bè và gia đình thông qua hình thức giao tiếp trực tiếp giữa người với người. Theo Johan Arndt – người tiên phong trong nghiên cứu về truyền miệng (WOM) đã đưa ra định nghĩa về WOM như sau: “Truyền thông trực tiếp bằng lời nói giữa một người nhận và một người truyền tin liên quan tới một nhãn hiệu, sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó và người nhận nhận thức rằng những thông điệp của người gửi có tính chất phi thương mại”. Theo Hiệp hội marketing truyền miệng (WOMMA): “Là hành động một người tiêu dùng thiết lập và/hoặc truyền bá các thông tin liên quan đến marketing cho một người tiêu dùng khác”. Truyền miệng có ưu thế dễ dàng truyền đạt hoặc có thể trình bày một cách hệ thống có thể giải thích cặn kẽ với mọi đối tượng kể cả người không biết chữ.
Không những truyền miệng có tính hiệu quả thông tin cao do người nói có thể chia sẻ thông tin bằng cảm xúc sắc thái một cách trực diện, thu hút người nghe mà còn ít tốn kém chi phí, có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ. Bên cạnh đó, truyền miệng truyền thống cũng có những hạn chế như sau: Lời nói chỉ đi một chiều, không quay trở lại. Khi đã lỡ lời thì không thể lấy lại được nữa. Dù có cải chính, xin lỗi vẫn gây cho người nghe một ấn tượng nào đó.
Vì vậy, người nói cần thận trọng đối với người nghe, cũng do tính chất này của lời nói cần chú ý nếu không lời của báo cáo viên đã đi qua không thể nghe lại và không phải lúc nào cũng có điều kiện hỏi lại hoặc đối thoại. 14 Phạm vi về không gian có giới hạn, do giới hạn tự nhiên của lời nói trực tiếp (dù đã có phương tiện khuếch đại) và khả năng tập hợp một số đông tại một địa điểm và thời điểm nhất định. Dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do tập trung đông người và ở các địa điểm khác nhau, Xuất phát từ những hạn chế của truyền miệng truyền thống (WOM) cùng với sự phát triển của Internet thì hình thức truyền miệng điện tử (eWOM) được ra đời và phát triển mạnh mẽ trên tất cả các trang mạng xã hội. Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về truyền miệng điện tử nhưng để có thể hiểu về eWOM trong nghiên cứu khoa học này, nhóm tác giả tham khảo khái niệm cơ bản như sau: Định nghĩa của Hennig – Thurau (2004): “Bất kỳ tuyên bố (lời phát biểu) tích cực hay tiêu cực của những khách hàng tiềm năng, khách hàng hiện tại hay khách hàng cũ về một sản phẩm hoặc công ty, được cung cấp cho mọi người và tổ chức thông qua Internet”.
Nói một cách đơn giản, eWOM là truyền miệng thông qua Internet. Như vậy, truyền miệng điện tử có thể được xem như là phần mở rộng của truyền miệng truyền thống giữa các cá nhân trong thời đại công nghệ mới (Yolanda& cộng sự, 2011) và có thể cải thiện những hạn chế của truyền miệng truyền thống (Godes & Mayzlin, 2004). Nó làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng, ý kiến của người tiêu dùng khác trên môi trường trực tuyến ngày càng trở thành cơ sở, ảnh hưởng đến cộng đồng người tiêu dùng khi đưa ra các quyết định (Chu,2009).2 Đặc điểm của eWOM - Truyền thông eWOM có khả năng mở rộng và tốc độ lan truyền cao (Hung và Li, 2007). - Hầu hết các thông tin trên Internet được trình bày/hiển thị dưới dạng văn bản, được lưu trữ và luôn có sẵn trong khoảng thời gian dài không xác định (Park và Lee,2009; Hung và Ly, 2007).
- Truyền thông eWOM có thể dễ dàng đo lường hơn WOM thông qua các định dạng trình bày, số lượng và sự ổn định (Lee, Parl và Hen,2008; Park và Kim, 2008). 15 - Thông điệp eWOM có thể được xem và đọc bởi bất cứ ai; bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào nếu có thể truy cập và Internet (Chen và Xie, 2008). - Nguồn gốc của thông điệp eWOM là từ một người đã trải nghiệm thường không rõ, rất khó để xác định mức độ chất lượng thông tin và độ tin cậy của các thông tin được đăng (Chatterjee, 2001). - Mối quan hệ giữa người truyền đạt và người nhận trong quá trình eWOM được coi là yếu bởi vì bất cứ ai cũng có thể đăng các thông điệp và bất cứ ai cũng có thể nhận được những thông điệp đó (Chatterjee, 2001).
- eWOM được công nhận là một nguồn tiếp thị hiệu quả và kinh tế. Ngoài ra, còn là một nguồn hữu ích và có ảnh hưởng đối với người tiêu dùng khi họ cần thông tin về các sản phẩm (Dellarocas, 2003).1 So sánh WOM và eWOM Đặc tính WOM eWOM Được truyền đi thông qua Internet Giao tiếp bằng lời nói trực với các hình thức như: diễn đàn, Hình thức tiếp, mặt dồi mặt mail, các cộng đồng trực tiếp, trang web đánh giá eWOM có thể dễ dàng đo lường nhờ vào các định dạng trình bày, Đo lường Khó đo lường số lượng và sự ổn định của eWOM (Lee, Park và Hen,2008; Park và Kim,2008) Thông tin được lan truyền Thông tin được lan truyền nhanh Tốc độ lan toả chậm và phải nói ra mới lan chóng thông qua Internet ở bất kỳ truyền được thời điểm nào 16 Có thể trò chuyện riêng tư Thông tin công khai trên mạng trực tiếp với nhau ở ngoài Tính bảo mật Internet, bất cứ ai cũng có thể đời thực, diễn ra ở thời điểm xem được ở bất cứ thời điểm nào gặp mặt Thông tin được thu thập từ những Thông tin được thu thập từ người gửi không gần gũi và những người xung quanh không quen biết nhau (Ratchford Nguồn thông như thành viên gia đình hoặc et al. Do đó, người nhận khó xác tin và độ tin bạn bè (Ratchford, Talukdar định độ tin cậy của thông điệp cậy và Lee,2001). Do đó, người hơn và thường dựa vào độ tin cậy nhận dễ dành xác nhận được của trang website mà thông tin độ tin cậy của thông tin được đăng tải Khả năng tiếp Khó tiếp cận và thu thập Dễ tiếp cận và thu thập thông tin cận thông tin 2.3 Động cơ tham gia vào eWOM Theo nghiên cứu của Henig – Thurau (2004) về mô hình thúc đẩy người tiêu dùng tham gia vào eWOM gồm có 8 động cơ như sau: sự hướng ngoại, lợi ích xã hội, sự thúc đẩy kinh tế, tìm kiếm sự tư vấn, sự quan tâm đến người tiêu dùng khác, giúp đỡ các công ty và sự trút bỏ cảm xúc tiêu cực, thể hiện cảm xúc tích cực và cải thiện bản thân.
Sự hướng ngoại đề cập đến mong muốn của người tiêu dùng chia sẻ kinh nghiệm tiêu dùng của họ để nâng cao hình ảnh của mình trở thành người mua sắm thông minh. Lợi ích xã hội xuất hiện khi một người tiêu dùng truyền đi một thông điệp eWOM nhằm mục đích gắn bó và hội nhập xã hội. 17 Sự thúc đẩy kinh tế liên quan tới động lực xảy ra khi một người tiêu dùng truyền đi một thông điệp eWOM cho các mục đích tài chính (như phần thưởng khi cung cấp các thông tin hữu ích, từ lượt bình chọn, đánh giá của người đọc eWOM). Tìm kiếm sự tư vấn liên quan đến việc đạt được các kỹ năng cần thiết để hiểu rõ hơn để sử dụng, vận hành, sửa đổi và sửa chữa một sản phẩm trở trên hoàn thiện hơn.
Sự quan tâm đến người tiêu dùng khác đề cập đến sự giúp đỡ chân thành của một người tiêu dùng cung cấp thông tin hữu ích để hỗ trợ những người tiêu dùng khác đưa ra quyết định mua sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Giúp đỡ công ty đề cập đến mong muốn giúp đỡ các công ty vì một kinh nghiệm tiêu thụ sản phẩm mà người tiêu dùng đặc biệt hài lòng. Sự trút bỏ cảm xúc tiêu cực liên quan đến kinh nghiệm tiêu thụ không hài lòng, kết quả là thúc đẩy việc giảm nhẹ tâm trạng thất vọng và sự lo lắng bằng các hình thức của WOM tiêu cực.4 Các hình thức của eWOM Từ thực tiễn đã cho thấy, hiện nay các trang mạng xã hội phát triển với tốc độ ánh sáng như Instagram, Facebook, Zalo hay trên các diễn đàn, blog, các tin nhắn nhanh trực tuyến (Forums, Hotmail, Yahoo messenger, MSN messenger, Gmail, Pancake) các trang web. Chính sự mở rộng nhanh này là nền tảng để người tiêu dùng có thể tự do về sự thu nhập thông tin sản phẩm, bình đẳng quyền lợi về sự trao đổi, chia sẻ những trải nghiệm, sự hiểu biết, đưa ra các đánh giá và bình luận của mình bằng cách đăng các thông tin dạng văn bản, hình ảnh, các đoạn video lên các trang web đánh giá sản phẩm.
Facebook là một phương tiện truyền thông xã hội và dịch vụ mạng xã hội trực tuyến do công ty Meta Platforms quản lý và được thành lập vào năm 2004. Đây được coi là một trong những công ty công nghệ Big Four cùng với Amazon, Apple và Google. Hiện có khoảng 2,91 tỷ người truy cập Facebook hàng tháng. Con số này đã chứng tỏ Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất toàn cầu.
Chính vì thế thông tin trên mạng Facebook có sức lan toả nhanh chóng và rộng rãi. 18 Khi một tài khoản Facebook được đăng kí thành công, bạn hoàn toàn có thể giao lưu với bạn bè cũng như chia sẻ những hình ảnh, tin tức, kiến thức trải nghiệm của bản thân… Những sở thích hoặc bất cứ thứ gì mà bạn muốn cho mọi người biết về bạn. Ngoài ra, Facebook cũng là nơi giúp bạn tìm hiểu những thông tin cần thiết thông qua các kênh mạng xã hội, bạn hoàn toàn có thể chia sẻ các ý kiến chủ quan của mình về những việc mà các bạn từng được trải nghiệm cho người khác. Bạn cũng có thể dễ dàng lưu lại các trang mà có lượt đánh giá, nhận xét nhiều về các vấn đề mà bạn đang quan tâm bằng một cú Click (nhấn) vào ô Like (thích).
Với những thông tin mà bạn cho rằng nó hữu ích, bạn có thể chia sẻ với bạn bè bằng một cú Tag (nhấn mạnh) để mọi người cũng biết.