chương 1, đề tài sẽ làm rõ cơ sở lý thuyết về truyền miệng - WOM, truyền miệng điện tử- eWOM, cùng sự khác biệt giữa hai phương pháp marketing này. Đồng thời, đề cập tới các lý thuyết nền tảng cho công trình này, bao gồm: thuyết chấp nhận thông tin (IAM) và thuyết hành vi theo kế hoạch (TPB). Các yếu tố trong nghiên cứu sẽ được định nghĩa và tổng quan mối quan hệ thông qua phân tích cơ sở lý thuyết của chúng từ các nghiên cứu trong và ngoài nước. Từ cơ sở lý thuyết, và phân tích tổng quan tình hình đặc điểm thị trường nền tảng TMTT, nghiên cứu đề ra các giả thuyết cùng mô hình nghiên cứu.
Truyền miệng Truyền miệng luôn là một yếu tố quan trọng trong quá trình xử lý thông tin ảnh hưởng tới YĐMH của NTD (e. Hơn nữa, theo một số nghiên cứu trước, truyền miệng được chứng minh là mang lại hiệu quả cao hơn các phương pháp quảng cáo truyền thống như bán hàng tư nhân hay những phương pháp quảng cáo phổ biến (Katz và Lazarfeld, 1955 [82]). Kể từ đó truyền miệng luôn được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm và được xem là một nguồn thông tin quan trọng ảnh hưởng đến hành vi NTD (Chevalier và Mayzlin, 2006 [48]). Đi kèm những nghiên cứu là một vài định nghĩa nổi bật của truyền miệng.
“Truyền miệng là sản phẩm thông tin được trực tiếp truyền đi bằng miệng qua những môi trường riêng tư, đồng nhất và không sử dụng đến máy móc từ NTD này đến NTD khác” (Berger và cộng sự, 2013 [159]). Litvin và cộng sự (2008) [104] định nghĩa: “lời truyền miệng là những giao tiếp giữa người với người về sản phẩm, dịch vụ, hoặc về công ty, nguồn giao tiếp này độc lập với những nguồn thông tin mang tính chất thương mại”. Hay theo Anderson, 1998 [67], truyền miệng có thể được định nghĩa là “giao tiếp người với người giữa một người đưa ra thông tin được cho là không mang mục đích quảng cáo và một 14 người tiếp nhận thông tin đang xem xét một hãng hàng, một thương hiệu, sản phẩm, tổ chức hay dịch vụ nào đó”. Truyền miệng điện tử Hiện nay, công nghệ đã cho phép NTD cơ bản có thể mua hàng từ xa và không cần trực tiếp có mặt.
Từ sự thay đổi bối cảnh đã dẫn tới một hình thức truyền miệng tân tiến hơn, hiệu quả với thực trạng hơn: truyền miệng điện tử (eWOM). Từ đó, eWOM đã dần dần hình thành một khái niệm, nó đáng tin cậy hơn, dễ truy cập và mạnh mẽ hơn truyền miệng cổ điển. Một vai trò quan trọng của eWOM là trợ giúp khách hàng đưa ra quyết định mua hàng đúng đắn. Nhóm tác giả cho rằng định nghĩa của Hennig- Thurau, 2004 [75] về eWOM là có ý nghĩa tham khảo lớn nhất với đề tài.
Về cơ bản, eWOM chính là truyền miệng nhưng được tuyên truyền và phổ biến trên một nền tảng TMTT. eWOM có thể hiểu là những bình luận, phản hồi của khách hàng về sản phẩm trên nền tảng TMĐT. Như vậy, có thể hiểu là khi nhắc đến eWOM trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đang tập trung vào mảng đánh giá trực tuyến từ khách hàng. So sánh truyền miệng và truyền miệng điện tử Tuy sự khác biệt của truyền miệng và eWOM về định nghĩa khá rõ ràng, nhóm nghiên cứu muốn đi sâu hơn vào phân tích về đặc điểm của eWOM bằng cách so sánh với truyền miệng qua một số khía cạnh nhất định để làm nổi bật lên tính chất và sự đổi mới trong eWOM.
- Một là, với truyền miệng truyền thống - WOM, lời truyền miệng là những giao tiếp giữa người với người về sản phẩm, dịch vụ hoặc về công ty (Litvin và cộng sự, 2008 [104]). Còn với truyền miệng điện tử - eWOM, nó là quá trình mà người gửi đăng tải tin nhắn lên một nền tảng trung gian đến một số lượng người không xác định (Littlejohn và Foss, 2009 [103]). Ngay từ khái niệm, nhóm tác giả đã nhận ra điểm khác biệt cơ bản nhất của truyền miệng và eWOM nằm ở hình thức thực hiện. Với truyền miệng, hình thức thực hiện mang tính trực tiếp (giữa người với người) nhưng với eWOM thì hình thức lại mang tính gián tiếp (thông qua sự đăng tải trên các nền tảng Internet).
- Hai là, phạm vi ảnh hưởng. Phạm vi truyền thông của WOM được giới hạn trong một khu vực, một địa phương (Brown và Reingen, 1987 [37]). Trong khi các thông điệp của eWOM “có thể được xem và đọc bởi bất cứ ai, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào có thể truy cập Internet” (Chen và Xie, 2008 [43]). Tác động của eWOM có thể mang đến 15 lớn hơn truyền miệng cổ điển nhờ sự lan tỏa và độ mở của Internet.
Hơn nữa, tầm ảnh hưởng của truyền miệng thông thường có thể bị hao mòn theo thời gian nhưng với eWOM thì không, bởi các dữ liệu được đăng tải trên Internet hầu như luôn được lưu trữ lại. - Ba là, độ tin tưởng. Thông tin của WOM được thu thập từ những người xung quanh như thành viên gia đình, người thân hoặc bạn bè (Ratchford, Talukdar và Lee, 2003 [135]) còn các thông điệp eWOM thường được lấy từ những NTD không gần gũi và không cần quen biết lẫn nhau (Ratchford và cộng sự, 2003 [135]). Vì vậy, có thể nói khi xét trên góc độ tin tưởng, truyền miệng có thể đáng tin hơn eWOM do những thông tin eWOM khó có thể xác thực được mục đích và độ chính xác hơn.
Mối quan hệ giữa người truyền đạt và người nhận trong quá trình diễn ra eWOM được coi là yếu bởi bất cứ ai cũng có thể đăng các thông điệp và bất cứ ai cũng có thể nhận được những thông điệp đó (Chatterjee, 2001 [42]). - Bốn là, sự kiểm soát. Phương tiện để truyền thông của WOM là thông qua giao tiếp trực tiếp của NTD và không có kiểm soát sự lây lan của thông tin hoặc tin nhắn (Park, 2007 [50]). Còn với eWOM, người bán hàng trực tuyến có thể kiểm soát được một số thông tin như vị trí các thông điệp trên trang web, hoặc những thông điệp đánh giá nào được trang web để có được sự chú ý của NTD (Park, 2007 [50]).Với truyền miệng, việc kiểm soát dường như khó khăn hơn rất nhiều so với eWOM.
Với truyền miệng, việc đo lường là không thể hay chí ít là rất khó đo lường do không thể kiểm soát được việc NTD muốn truyền miệng hay không. Truyền thông eWOM có thể dễ dàng đo lường hơn WOM truyền thống do các định dạng trình bày, số lượng và sự ổn định(Lee, Park và Hen, 2007 [50]; Park và Kim, 2008 [128]). Khi sử dụng truyền miệng truyền thống, các thông tin được trao đổi giữa người truyền tải và người nhận được cho là riêng tư nhưng với eWOM, một khi đăng tải thông tin lên những trang mạng trung gian, thì mọi người có khả năng truy cập vào trang mạng đó đều có khả năng tiếp cận được với những thông tin được truyền tải (Kozinets và cộng sự, 2010 [90]; King và cộng sự, 2014 [88]). - Bảy là, sự ẩn danh.
Khi truyền miệng truyền thống, người truyền tin thường là một người rõ ràng danh tính, nhưng trên nền tảng điện tử, bất cứ ai cũng có thể tạo ra thông tin và không có cách nào để thật sự chắc chắn về danh tính một người. - Ngoài ra, eWOM còn mang theo khía cạnh chủ động tìm kiếm thông tin từ NTD hơn truyền miệng thông thường. Dựa trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là YĐMH trên trang mua bán điện tử, nhóm nghiênn cứu sẽ trình bày hai học thuyết có tác động đến ý định mua của NTD đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu trước đây. Cơ hội mới và thách thức đặt ra bởi eWOM Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng truyền thông eWOM đã mang đến nhiều cơ hội mới (Jalilvand và cộng sự, 2012 [136]; Varadarajan và Yadav, 2002 [160]).
Đầu tiên, bằng cách sử dụng truyền thông eWOM, NTD có thể nhận thông tin về sản phẩm và dịch vụ từ những nhóm lớn, đa dạng về mặt địa lý (Jalilvand và cộng sự, 2011 [136]). Thứ hai, NTD có thể tiếp cận đa dạng thông tin về các thuộc tính sản phẩm để giúp đưa ra quyết định mua hàng sáng suốt hơn (Varadarajan và Yadav, 2002 [160]). Ngoài ra, eWOM là nguồn thay thế để NTD nhận thông tin về sản phẩm và dịch vụ dựa trên những cân nhắc của người mua, giảm ảnh hưởng từ các công ty so với tiếp thị và quảng cáo truyền thống (Jalilvand và cộng sự, 2012 [136]; Varadarajan và Yadav, 2002 [160]). Truyền thông eWOM cũng giới thiệu một số cơ hội cho các công ty (Dellarocas, 2003 [54]; Jalilvand và cộng sự, 2012 [136]; Mayzlin, 2006 [48]).
Cơ hội đầu tiên nó mang lại chính là lợi ích trong việc xây dựng thương hiệu và thu hút khách hàng. eWOM có thể là một công cụ hiệu quả trong việc thu hút khách hàng và xây dựng tập khách hàng trung thành (Dellarocas, 2003 [54]; Mayzlin, 2006 [48]). Cùng với việc mang đến những cơ hội mới, eWOM cũng mang đến nhiều thử thách cho NTD (Chatterjee, 2001 [42]; Dellarocas, 2003 [54]; Friedman và Resnick, 2001 [66]; Lee và Youn, 2009 [96]; Willemsen, 2013 [166]). Đầu tiên, NTD quen với những tín hiệu truyền thống (giao tiếp trực tiếp, biểu hiện gương mặt, …).
Việc thiếu những tín hiệu này có thể dẫn tới những khó khăn trong việc hình thành ấn tượng về người gửi eWOM và đặc tính của họ (Chatterjee, 2001 [42]; Dellarocas, 2003 [54]; Lee và Youn, 2009 [96]; Willemsen, 2013 [166]). Khó khăn thứ hai chính là trong môi trường trực tuyến, danh tính có thể được thay đổi rất dễ dàng, điều này có thể dẫn đến thao túng chiến lược (Dellarocas, 2003 [54]). Ví dụ như việc các thành viên trong một cộng đồng có thể lừa dối các thành viên khác, rồi biến mất và xuất hiện với một danh tính trực tuyến mới và trong sạch (Friedman và Resnick, 2001 [67]). Thứ ba, bản chất trung gian của eWOM dẫn đến những thách thức liên quan đến độ tin cậy của người điều hành (Dellarocas, 2003 [54]).
Hơn nữa, truyền thông eWOM không có bất cứ định dạng chuẩn nào (Lee và Youn, 2009 [96]). Nội dung của eWOM vô cùng đa dạng, nó có thể bao gồm những đề xuất cơ bản với ý kiến tiêu cực hay tích cực về một sản phẩm và dịch vụ cho tới các đánh giá vô cùng chi tiết, kết quả là NTD khó có thể đánh giá sự hữu ích của thông điệp đó (Willemsen, 2013 [166]). Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Hình 2.hành 1: Thuyết vi có kế hành hoạch vi có TPB kế hoạch TPB Nếu như thuyết hành vi hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen (1975) [64] cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí.