Đặt vấn đề Cây ổi (Pisidium guajava L.) là một loại cây ăn quả rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Ổi được nhiều người ưu chuộng vì không những có giá trị kinh tế cao, mà còn có giá trị dinh dưỡng rất tốt. Theo Vũ Công Hậu (1996), trong thành phần dinh dưỡng của ổi có chứa tới 50 calo/100g, cao hơn dưa hấu, đu đủ; hàm lượng protein là 0,7 - 1,9 g/100g; lipit 0,26 - 0,6 g/100g; vitamin C nhiều gấp 5, 6 lần của cam, ngoài ra còn có vitamin B1, B3, vitamin A, muối khoáng, Fe, K, P, S, Ca. Ngoài dùng ăn tươi, ổi còn được chế biến thành rất nhiều sản phẩm có giá trị như làm nước ép, mứt ổi, bánh kẹo.
Đặc biệt ổi có tác dụng rất tốt trong việc chữa các bệnh về tim mạch, đường ruột cũng như có tác dụng chống ung thư. Trước đây, ở nước ta ổi thường mọc hoang hoặc trồng vườn nhà để lấy quả ăn. Ngày nay, do nhận thấy giá trị của cây ổi mang lại nên nó được trồng nhiều và phổ biến hơn ở hầu khắp các vùng trong trong cả nước. Ở các tỉnh phía bắc, cây ổi đã đem lại thu nhập không nhỏ cho cho người sản xuất tại một số vùng như Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội, phần lớn là các giống ổi địa phương như: ổi Đào, ổi Mỡ, ổi Đông Dư, ổi Bo, ổi Trắng…tuy nhiên các giống ổi địa phương đều là giống nhiều hạt, chất lượng quả không cao.
Để giống ổi có được năng suất cao, chất lượng tốt ngoài chất lượng giống còn chú ý các biện pháp kỹ thuật thâm canh ổi, đặc biệt dinh dưỡng phân bón. Hiện nay đa số người dân trồng ổi sử dụng phân bón không theo quy trình cụ thể và không riêng cho từng giống. Chủng loại phân bón cũng như liều lượng phân bón khác nhau tùy theo từng địa phương và từng nông hộ. Các biện pháp kỹ thuật bón phân chỉ áp dụng với các giống có diện tích sản suất lớn còn trồng nhỏ lẻ tại các hộ gia đình hầu như không bón hoặc bón 2 phân theo cảm tính, dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu gây lãng phí mà hiệu quả đạt được không cao.
Chính vì vậy nhằm góp phần giúp người dân có được công thức bón phân hợp lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ổi Đài Loan tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống ổi từ đó đưa ra mức phân bón phù hợp với điều kiện canh tác tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống ổi qua các công thức bón phân. - Đánh giá tình hình sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất từ đó đưa ra công thức bón phân phù hợp nhất, áp dụng vào sản xuất.
- Theo dõi các đặc trưng, đặc tính có liên quan đến sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất từ đó phân tích tương quan giữa các yếu tố đó với năng suất quả để chọn ra các chỉ tiêu quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác động lên cây ổi. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, sử dụng các loại phân bón thích hợp cho cây ổi trên địa bàn Thái Nguyên - Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên, làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy về cây ổi tại Trường.Ý nghĩa thực tiễn Kết luận của đề tài là cơ sở quan trọng để trọn được tổ hợp phân bón hợp lý, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng trọt cho giống ổi Đài Loan, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và tiết kiệm chi phí sản xuất cho người dân. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Trong những năm gần đây các ngành chế bến và xuất nhập khẩu trái cây phát triển mạnh, nó đã trở thành ngành mũi nhọn của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Phong trào kinh tế làm vườn đồi đang được chú trọng và ngày càng phát triển, đặc biệt là cây ổi với diện tích, năng suất, sản lượng tăng liên tục trong thời gian qua. Có nhiều yếu tố quyết định đến năng suất cây trồng như giống, đất đai, chăm sóc, tỉa cành.trong đó phân bón cũng là một yếu tố quan trọng, nó có tác động mạnh đến đến diện tích cũng như thu nhập của người nông dân. Mỗi vùng với điều kiện sinh thái, đất đai, kinh tế xã hội khác nhau thì việc bón phân cho ổi như thế nào mang lại hiệu quả kinh tế cao là điều mà các nhà khoa học và người nông dân rất quan tâm. Để giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chịu được điều kiện ngoại cảnh bất lợi thì cần phải có quy trình bón phân hợp lý.
Vì vậy nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống ổi Đài Loan là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng quy trình bón phân chuẩn cho ổi tại tỉnh Thái Nguyên. Nguồn gốc và phân loại của cây ổi 2. Nguồn gốc và phân bố di truyền của ổi Cây ổi có tên khoa học là Psidium guajava. 1987 (Brazilian Guava), hầu hết các loại ổi trồng đều phân bố khá rộng, loài P.
guineense được tìm thấy từ phía bắc Argentina và Pêru tới phía Nam Mexicô. Ở Argatala, Ấn Độ cây ổi mọc nhiều và được coi như một loài cây dại [12]. Theo tác giả Vũ Công Hậu (1990), cây ổi là cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc ở châu Mỹ và được tập trung chủ yếu ở Brazil hoặc đảo Anti [3]. 5 Cây ổi hiện đã thích nghi được và trồng phổ biến ở tất cả các xứ nóng.
Hơn nữa nó đã là cây nửa dại, ở một số nơi nó là một thứ cây dại cần phải phá bỏ. Không chỉ các nước nhiệt đới mà cả các vùng á nhiệt đới ví dụ các nước xung quanh biển địa Trung Hải, phía Nam nước Pháp, Florida, California của Mỹ đều đã trồng khá phổ biến. Phân loại Cây ổi (Psidium guajava L.guajava Tên gọi khác: Phan thạch lựu (vị thuốc), kê thỉ quả (vị thuốc) Tên tiếng Anh: Apple guava, Common guava. Tên tiếng Pháp: Goyavier.
Tên khoa học: Psidium guajava L. Tên đồng nghĩa: Psidum guajava var pyriferum L. Psidum guajava var pomiferum L. Các loài tương cận: Ổi dâu tây (P.
cattleianum) ở Hawaii Ổi chanh (Psidium littorale var. littorale) ở Hawaii Ổ tím (Psidium rufum) Phân loại khoa học (Scientific classification) - Theo hệ thống APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) (2003) bộ sim hay bộ đào kim nương (Myrtales) chứa 11 họ với 380 chi và trên 11. - Hệ thống APG III công bố tháng 10 năm 2009 công nhận bộ này có 11 họ. - Họ sim (Myrtaceae) bao gồm khoảng 140 giống và 3000 loài hoặc hơn.
Chúng có nguồn gốc từ khắp các vùng từ nhiệt đới, cận nhiệt đới tới vùng ôn đới như Australia. Họ sim chia thành hai họ phụ là Leptospermoidea với dạng quả nang và Myrtoideae với dạng quả hạch hay quả mọng. Giá trị dinh dưỡng và công dụng của cây ổi 2. Thành phần dinh dưỡng và hóa học Quả và lá ổi đều chứa beta-sitosterol, quereetin, guaijaverin, leucocyanidin và avicularin; lá còn có tinh dầu dễ bay hơi, eugenol; quả chín chứa nhiều Vitamin C và các polisaccarit như fructoza, xyloza, glucoza, rhamnoza, galactoza… Rễ có chứa axit arjunolic; vỏ rễ chứa tanin và các axit hữu cơ.
Hàm lượng dinh dưỡng trung bình trong 100 gam quả ổi: 1 gam protein, 15 mg canxi, 1 mg sắt, 0,06 mg retinol (vitamin A), 0,05 mg thiamin (vitamin B1) và 200 mg axit ascorbic (vitamin C). Hàm lượng vitamin C cao trong quả ổi hơn ñáng kể so với trong cam. Quả ổi cũng giàu pectin. Theo một tài liệu khác, quả ổi chứa 77,9% nước, 0,9% protein, 0,3% lipit, 15 % cacbohydrat, 0,3% axit hữu cơ, 0,5% tro, 0,03 mg% vitamin B1, 0,03 mg% vitamin B2, 0,2 mg% vitamin PP, 50 - 60 mg% vitamin C.
Các loại đường trong quả ổi gồm 58,9% fructoza, 35,7% glucoza, 5,3% saccaroza. Các axit hữu cơ chính là axit citric và axit malic. Trong lá ổi có chứa 10 phần trăm tanin cùng các thành phần tương tự và 0,3% tinh dầu (chủ yếu là caryophyllene, β-bisabolene ngoài ra có aromadendrene, β-selinene, nerolidiol, oxit caryophyllene) và có thể có tecpen (axit oleanolic, axit ursolic). Vỏ cây chứa 25-30% tanin.
Quả ổi giàu chất xơ, vitamin A và C, axit folic và các khoáng chất dinh dưỡng, kali, đồng và mangan. Có ít calo hồ sơ cá nhân của chất dinh dưỡng cần thiết, quả cây ổi (P. guajava ) chứa lượng vitamin C gấp 4 lần so với quả cam. Công dụng của cây ổi Theo lương y Đinh Công Bảy, ổi là một loại quả có vai trò tích cực, giúp chống béo phì, làm cơ thể thon thả hơn, có lợi cho hệ tim mạch, da hồng 7 hào, chống lão hóa, ngăn ngừa ảnh hưởng của tia nắng mặt trời.
Như vậy, ăn ổi đưa vào một lượng vitamin cần thiết cho cơ thể, giúp da tươi tắn hơn, độ đàn hồi của da tốt hơn. Các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vỏ thân ñều ñược dùng để làm thuốc. Các bài thuốc dân gian từ cây ổi được sử dụng ở Việt Nam, Trung Quốc, Hawaii, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Caribe, Tây Phi. Nghiên cứu dược lý cho thấy dịch chiết các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm tiêu chảy.
Theo đông y lá ổi có vị đắng, tính ấm, có tác dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết; quả ổi vị ngọt hơi chua sáp, tính ấm, có công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng; các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp tính và mạn tính, thấp độc, thấp chẩn, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết. Quả ổi có tính mát, vị ngọt, chua, hơi chát, không độc, có tác dụng sáp trường, chỉ tả, thường dùng để sát trùng, rửa vết thương, trị tiêu chảy. Một tính chất quan trọng của ổi thường được sử dụng làm thuốc là tác dụng thu liễm, se da, co mạch, làm giảm sự xuất tiết và giảm sự kích thích ở màng ruột. Tác dụng này được dùng rộng rãi trong nhiều chứng tiêu chảy, thổ tả hoặc kiết lỵ.