Tổng quan nghiên cứu

Khu vực mỏ đất hiếm bản Dấu Cỏ, xã Đông Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tồn tại các thân đá pegmatit chứa dị thường phóng xạ tự nhiên với cường độ dao động từ 50 đến 2500 µR/h trên diện tích khảo sát 2 km². Vấn đề cốt lõi nảy sinh khi các mạch nước ngầm và hệ thống khe suối tự nhiên bào mòn, hòa tan các nguyên tố phóng xạ và phát tán trực tiếp vào môi trường sống của 42 hộ dân với 203 nhân khẩu sinh sống tại địa bàn. Nghiên cứu của học viên Quách Văn Hiểu thực hiện năm 2018 nhằm mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng ô nhiễm phóng xạ tự nhiên, xác định cơ chế tác động đến các hệ sinh thái đặc trưng và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro bức xạ.

Phạm vi không gian tập trung khảo sát chi tiết 0,5 km² tại thôn Hạ Thành - nơi có 17 hộ gia đình sinh sống sát các thân pegmatit có hoạt độ phóng xạ cao. Về mặt khoa học và thực tiễn, đề tài cung cấp bộ dữ liệu môi trường định lượng với 49.301 điểm đo gamma môi trường, 1.012 điểm đo phổ anpha khí radon và thoron cùng 33 mẫu phân tích nguồn nước. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện bản đồ phân vùng ô nhiễm 3 cấp độ, phục vụ công tác quy hoạch tái định cư, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại vùng khoáng sản xạ hiếm Tây Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học hệ thống của Arthur Tansley (1935) kết hợp nguyên lý chu trình sinh địa hóa và dòng năng lượng trong quần xã sinh vật. Khung phân tích mở rộng dựa trên mô hình tương tác bức xạ ion hóa với vật chất sống theo tiêu chuẩn bảo vệ bức xạ của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA 1996, 2004) và Ủy ban Quốc tế về An toàn Bức xạ (ICRP). Ba khái niệm trung tâm được vận dụng gồm: Hoạt độ phóng xạ (đơn vị Becquerel biểu thị số phân rã trong một giây), Suất liều hấp thụ gamma (đơn vị µSv/h phản ánh mức độ chiếu xạ ngoài) và Suất liều hiệu dụng quy đổi (mSv/năm theo tiêu chuẩn IAEA).

Cơ chế tác động sinh học được làm rõ qua hai con đường: cơ chế trực tiếp gây đứt gãy cấu trúc phân tử ADN, biến dị nhiễm sắc thể và cơ chế gián tiếp thông qua sự ion hóa phân tử nước tạo gốc tự do oxy hóa phá hủy màng tế bào. Khung lý thuyết này giúp mô hình hóa con đường lan truyền các đồng vị tự nhiên thuộc ba chuỗi phân rã phóng xạ Uranium (U-238), Thorium (Th-232) và Actinium (U-235) từ đá mẹ pegmatit vào chuỗi thức ăn sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Quá trình thu thập dữ liệu hiện trường diễn ra từ tháng 04/2018 đến tháng 10/2018 trên mạng lưới trắc địa đồng bộ. Nhóm tác giả thực hiện đo gamma môi trường tại 49.301 điểm bằng máy Inspector và DKS-96P theo mạng lưới (20 x 2) m trên diện tích 2 km² và mạng lưới chi tiết (10 x 2) m trên diện tích 0,5 km². Khảo sát phổ gamma xác định hàm lượng Kali, Uranium, Thorium được tiến hành tại 543 điểm bằng phổ kế GAD-6. Đo nồng độ khí Radon và Thoron được triển khai tại 1.012 điểm bằng thiết bị phổ anpha RAD-7 ở độ cao 1 m.

Cỡ mẫu môi trường bao gồm 33 mẫu nước (lấy tại độ sâu 0,2 m ở suối, giếng đào và mạch ngầm), 17 mẫu đất tầng canh tác (độ sâu 15 cm, diện tích 2x2 m) và 15 mẫu thực vật (lúa, sắn lấy trung bình 3 kg/mẫu) phân bố ngẫu nhiên phân tầng theo khoảng cách từ thân quặng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khoảng cách địa lý và địa hình được ưu tiên nhằm nắm bắt chính xác vành địa hóa thứ sinh. Phương pháp phân tích phổ gamma phân giải cao đầu dò Germanium siêu tinh khiết và phổ kế anpha UM-2000 theo tiêu chuẩn ISO 9696/9697 được lựa chọn nhờ độ nhạy vượt trội, đảm bảo sai số tương đối luôn duy trì dưới 10% (đo gamma đạt sai số 8,3%, đo phổ Thorium đạt 6,1%). Khảo sát xã hội học sử dụng phiếu điều tra cấu trúc tiếp cận toàn bộ 42 hộ dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trường phóng xạ tại khu vực nghiên cứu có bản chất chủ yếu do nguyên tố Thorium tạo nên, với hàm lượng Thorium trong đất đạt trung bình 62,8 ppm (cao nhất lên đến 632 ppm), vượt từ 1,3 đến 3,6 lần so với hàm lượng Uranium (trung bình 21,2 ppm). Độ biến thiên của Thorium đạt 106%, chứng minh tính bất đồng nhất và tập trung cao tại các thân pegmatit.

Thứ hai, nồng độ khí phóng xạ trong không khí có sự chênh lệch lớn giữa các thời điểm và không gian. Khí Thoron dao động trung bình 65,4 Bq/m³ (cực đại 2700 Bq/m³), cao hơn nồng độ Radon từ 1,45 đến 3,21 lần. Suất liều gamma ngoài trời đạt trung bình 0,33 µSv/h và cực đại 2,8 µSv/h. Đáng chú ý, suất liều bức xạ ban đêm tại trạm quan trắc cao hơn ban ngày từ 1,15 đến 1,35 lần (tăng từ 0,20 µSv/h ban ngày lên 0,225 µSv/h ban đêm).

Thứ ba, nguồn nước ngầm phục vụ ăn uống bị nhiễm xạ nghiêm trọng khi nồng độ Radon tự do trung bình đạt 30.520 Bq/m³, cá biệt tại mẫu nước mạch ngầm thôn Hạ Thành đạt mức kỷ lục 120.000 Bq/m³. Hàm lượng Radium-226 hòa tan đạt tối đa 15,56 x 10⁻¹² g/l, vượt 1,29 lần giới hạn quy chuẩn an toàn bức xạ NRB-96 (12 x 10⁻¹² g/l).

Thứ tư, tại hộ gia đình bà Đặng Thị Mai sinh sống ngay trên thân pegmatit, suất liều gamma trong nhà đo được 0,91 µSv/h (vượt 1,51 lần tiêu chuẩn an toàn 0,6 µSv/h) và nồng độ khí phóng xạ trong nhà chạm mốc 2.726 Bq/m³, vượt gấp 27,26 lần ngưỡng quy định 100 Bq/m³.

Thảo luận kết quả

Sự tích tụ phóng xạ tại bản Dấu Cỏ bắt nguồn từ quá trình phong hóa tự nhiên các thân pegmatit làm giải phóng các đồng vị Th-232, U-238 và Ra-226 vào dòng chảy suối Bầu và hệ thống nước ngầm tầng nông. Khi phân tích mặt cắt suối Bầu qua biểu đồ đường biến thiên không gian, các thông số nồng độ Radon và Radium tạo đỉnh nhọn tại khu vực tiếp giáp thân pegmatit rồi giảm dần theo quy luật hàm số mũ sau 300 - 400 m về phía hạ lưu, chỉ còn 300 Bq/m³ ở cuối suối.

Dữ liệu quan trắc môi trường được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố tần suất suất liều gamma và bảng đối chiếu nồng độ hạt nhân phóng xạ theo ba vùng ô nhiễm. So sánh với các mỏ đất hiếm Tây Bắc như Đông Pao (Lai Châu) hay Yên Phú (Yên Bái), mức độ ô nhiễm Thoron tại bản Dấu Cỏ có tính chất cục bộ nhưng cường độ chiếu trong qua đường hô hấp và tiêu hóa lại cao hơn đáng kể do khu dân cư định cư trực tiếp trên thân quặng. Sự phơi nhiễm kéo dài giải thích tỷ lệ cao các chứng bệnh đường hô hấp, thần kinh và biến chứng thai sản tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả đánh giá phân vùng ô nhiễm môi trường phóng xạ, bốn nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý được đề xuất thực hiện:

  1. Quy hoạch di dời và tái định cư khẩn cấp: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ tổ chức di dời toàn bộ 17 hộ dân (81 nhân khẩu) thuộc thôn Hạ Thành ra khỏi vùng ô nhiễm bậc III (bán kính 130 m quanh thân quặng, nơi suất liều vượt 0,6 µSv/h). Thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2019 - 2020, đưa mức phơi nhiễm phóng xạ tích lũy của người dân về dưới ngưỡng an toàn 1,0 mSv/năm.
  2. Chuyển đổi nguồn nước ăn uống và sinh hoạt: Ban Quản lý Dự án Nước sạch Nông thôn tỉnh Phú Thọ đầu tư xây dựng hệ thống đường ống dẫn nước tự chảy từ thượng nguồn suối Bầu (cách trung tâm thôn 500 m) về phục vụ sinh hoạt. Dự án triển khai trong vòng 6 tháng đầu năm 2019, nhằm hạ nồng độ Radon trong nước sinh hoạt từ 120.000 Bq/m³ xuống dưới mức an toàn 10.000 Bq/m³.
  3. Cải tạo mặt bằng và cô lập nguồn phát xạ: Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm phối hợp cùng chính quyền địa phương tiến hành san lấp, hoàn nguyên các công trình hào, giếng thăm dò địa chất cũ và phủ lớp đất sét dày tối thiểu 30 - 50 cm lên các điểm lộ quặng. Thời gian thực hiện từ quý III/2019 đến quý IV/2020, mục tiêu giảm 70% lượng khí Radon khuếch tán vào khí quyển.
  4. Tuyên truyền và quản lý canh tác nông nghiệp: Trạm Khuyến nông và Trạm Y tế xã Đông Cửu thiết lập quy chế cấm trồng sắn, lúa và các loại củ ngắn ngày trên diện tích đất ô nhiễm bậc I và II (khoảng 0,5 km²). Định kỳ quan trắc môi trường 6 tháng/lần bắt đầu từ năm 2019 để kiểm soát chuỗi truyền nông sản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu chuyên sâu giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và an toàn bức xạ: Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Sở Tài nguyên và Môi trường sử dụng bộ số liệu điều tra tại 49.301 điểm đo để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương và lập phương án phân vùng sử dụng đất mỏ xạ hiếm.
  2. Các viện, trường và nhà nghiên cứu địa chất môi trường: Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học Môi trường và Địa vật lý ứng dụng phương pháp kết hợp phổ gamma GAD-6 và phổ anpha RAD-7 làm tài liệu tham khảo cho các mô hình lan truyền chất phóng xạ.
  3. Đơn vị khai thác và chế biến khoáng sản đất hiếm: Các doanh nghiệp khoáng sản tham khảo quy trình đánh giá tác động môi trường và thiết kế hệ thống rào cản kỹ thuật cô lập quặng đuôi chứa Thorium và Uranium.
  4. Chính quyền địa phương và cán bộ y tế dự phòng cơ sở: Ủy ban nhân dân và trạm y tế cấp xã, huyện khai thác dữ liệu dịch tễ học và khuyến cáo xử lý nước để truyền thông phòng chống nhiễm xạ cho cộng đồng dân tộc thiểu số vùng mỏ.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Nguồn gốc chính gây ra tình trạng ô nhiễm phóng xạ tại bản Dấu Cỏ là gì?
Ô nhiễm xuất phát từ các thân đá pegmatit chứa khoáng vật phóng xạ Thorium và Uranium phát lộ tự nhiên trên diện tích 2 km². Quá trình phong hóa và rửa trôi tự nhiên khiến Thorium (hàm lượng trung bình 62,8 ppm, cực đại 632 ppm) và Uranium phát tán mạnh vào đất đá, không khí và các dòng thủy văn.

Câu 2: Tại sao nồng độ khí phóng xạ trong nhà ở thôn Hạ Thành lại cao hơn ngoài trời?
Tại nhà bà Đặng Thị Mai, nồng độ khí phóng xạ trong nhà đạt tới 2.726 Bq/m³ so với 1.885 Bq/m³ ngoài trời. Nguyên nhân do nhà xây trực tiếp trên nền đá chứa quặng kết hợp cấu trúc nhà vách kín, ít cửa thông gió khiến khí Radon và Thoron bốc lên từ nền đất bị tích tụ liên tục.

Câu 3: Nguồn nước sinh hoạt tại khu vực mỏ đất hiếm bị ảnh hưởng như thế nào?
Nước ngầm tại chân đồi pegmatit bị ô nhiễm nặng với nồng độ khí Radon lên tới 120.000 Bq/m³ và Radium-226 đạt 15,56 x 10⁻¹² g/l (vượt 1,29 lần quy chuẩn NRB-96). Ngược lại, nước suối ở hạ lưu cách nguồn 400 m giảm nồng độ còn 300 Bq/m³, cho thấy nguy cơ tập trung ở nước ngầm đầu nguồn.

Câu 4: Hoạt động canh tác nông nghiệp trên đất mỏ gây ra những rủi ro sinh thái gì?
Người dân phát rừng đốt nương trồng sắn trên các thân quặng làm xới xáo đất chứa phóng xạ, thúc đẩy rửa trôi vành địa hóa. Cây sắn và lúa hấp thụ đồng vị phóng xạ từ đất và nước tưới, tạo nguy cơ tích lũy sinh học các hạt nhân U-238 và Th-232 vào chuỗi thức ăn con người.

Câu 5: Biện pháp tức thời nào giúp người dân giảm thiểu phơi nhiễm phóng xạ từ nước uống?
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc đun sôi nước và trữ thoáng khí trong bể chứa từ 24 đến 48 giờ giúp giảm đáng kể hàm lượng Radon tự do trước khi sử dụng. Đồng thời, người dân cần chuyển ngay điểm lấy nước sinh hoạt lên thượng nguồn suối Bầu cách khu mỏ tối thiểu 500 m.

Kết luận

  • Đề tài đã đo đạc và lượng hóa thành công trường phóng xạ tại mỏ đất hiếm bản Dấu Cỏ với 49.301 điểm gamma, khẳng định bản chất ô nhiễm do Thorium chiếm ưu thế (hàm lượng trung bình 62,8 ppm).
  • Xác định mức độ ô nhiễm trong nguồn nước ngầm (Radon đạt 120.000 Bq/m³) và không khí trong nhà dân (2.726 Bq/m³), vượt xa các tiêu chuẩn an toàn bức xạ quốc tế.
  • Phân tích chi tiết chu trình lan truyền hạt nhân phóng xạ trong các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, đặc biệt là hệ sinh thái nông nghiệp và khu dân cư.
  • Thiết lập bản đồ phân vùng ô nhiễm môi trường phóng xạ 3 cấp độ, làm cơ sở khoa học tin cậy cho quy hoạch không gian lãnh thổ.
  • Đóng góp luận cứ xác đáng để kiến nghị di dời 17 hộ dân thôn Hạ Thành và xây dựng hệ thống cấp nước sạch thay thế.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần được triển khai ngay trong giai đoạn 2019 - 2020 với ưu tiên giải phóng mặt bằng tái định cư và thiết lập trạm quan trắc bức xạ tự động. Các nhà khoa học, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương cần phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn bức xạ lâu dài và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng dân cư vùng khoáng sản xạ hiếm.