Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu, với khoảng 70% dân số đối mặt trực tiếp với các rủi ro thiên tai và thiệt hại kinh tế ước tính chiếm tới 1,5% GDP hàng năm. Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh chóng, ngập úng cục bộ tại các đô thị lớn như Hà Nội không còn là hiện tượng thời tiết đơn thuần mà đã trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, làm đảo lộn sinh hoạt thường nhật, phá vỡ cấu trúc sinh kế và đe dọa sức khỏe của hàng triệu cư dân.
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Bùi Văn Đề, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh, tập trung làm rõ thực trạng ngập lụt và đánh giá toàn diện các hành vi ứng phó của người dân thủ đô. Nghiên cứu xác định các mục tiêu cốt lõi: mô tả mức độ tác động của ngập úng đối với đời sống kinh tế - xã hội, nhận diện các phương thức ứng phó theo từng giai đoạn và đo lường hiệu quả thích ứng thực tế tại cơ sở.
Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại hai điểm nóng ngập úng đại diện cho cấu trúc đô thị lõi và ven đô: phường Tân Mai (quận Hoàng Mai) và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì), với tổng thể khoảng 850 hộ gia đình cư trú trong vùng ngập thường xuyên. Dữ liệu thực địa được thu thập từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016, đồng thời khai thác chuỗi dữ liệu thứ cấp từ năm 2008 đến năm 2015.
Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ góc độ xã hội học, góp phần hiện thực hóa mục tiêu quốc gia theo Quyết định định hướng phát triển thoát nước đô thị đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, hướng đến xóa bỏ hoàn toàn tình trạng ngập úng tại các đô thị loại hai trở lên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đồng thời hai khung lý thuyết nền tảng của xã hội học hiện đại nhằm phân tích hiện tượng ngập lụt đô thị dưới lăng kính cấu trúc xã hội:
Lý thuyết Xã hội rủi ro (Risk Society) do Ulrich Beck và Anthony Giddens khởi xướng đóng vai trò định hình cách tiếp cận bản chất vấn đề. Theo lý thuyết này, ngập lụt đô thị tại Hà Nội không đơn thuần là rủi ro ngoại sinh từ tự nhiên mà là "rủi ro nhân tạo" (manufactured risk) sinh ra từ chính quá trình hiện đại hóa và bê tông hóa thiếu đồng bộ. Giddens chỉ ra rằng các rủi ro hiện đại mang tính bất định cao, buộc mỗi cá nhân phải tự tìm kiếm phương án phòng ngừa thay vì trông đợi vào cơ chế đền bù sau thiên tai.
Lý thuyết Vốn xã hội (Social Capital) của Lyda Judson Hanifan, kết hợp với các quan điểm mở rộng của Pierre Bourdieu và Robert Putnam, được sử dụng để giải mã năng lực tương trợ cộng đồng. Vốn xã hội biểu hiện qua lòng tin, mạng lướt liên kết xóm giềng và sự phối hợp giữa người dân với các tổ chức tự quản địa phương trong tình huống khẩn cấp.
Bên cạnh hai lý thuyết trụ cột, tác giả chuẩn hóa 4 khái niệm công cụ:
- Ngập lụt đô thị: Tình trạng ứ đọng nước trên diện rộng do mưa lớn vượt quá công suất tiêu thoát của hạ tầng kỹ thuật.
- Ứng phó: Chuỗi hành động linh hoạt bao gồm phòng ngừa trước ngập, đối phó trong ngập và khắc phục hậu quả sau ngập.
- Tính dễ bị tổn thương: Mức độ nhạy cảm của các nhóm xã hội trước tác động tiêu cực của thiên tai về mặt thể chất, kinh tế và môi trường.
- Năng lực thích ứng: Khả năng điều chỉnh hành vi và huy động nguồn lực của hộ gia đình để giảm thiểu tối đa các rủi ro hiện hữu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học:
Cỡ mẫu khảo sát định lượng được xác định thông qua công thức tính mẫu tỷ lệ quốc tế với độ tin cậy 95% và khoảng tin cậy 7. Trên tổng thể 850 hộ gia đình thường xuyên ngập nước tại 4 tổ dân phố (28, 29, 30, 31) phường Tân Mai và 3 xóm (xóm Lẻ, xóm Chùa, xóm Đình) xã Tân Triều, dung lượng mẫu tính toán là 159 hộ. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản không hoàn lại, phỏng vấn trực tiếp đại diện các hộ gia đình từ 18 tuổi trở lên và đã sinh sống ổn định từ năm 2008 đến thời điểm khảo sát, thu về 150 phiếu hợp lệ đạt tỷ lệ 94,3%.
Về phương pháp định tính, tác giả thực hiện 26 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp và khuyết danh, bao gồm 6 cán bộ chuyên trách cấp phường/xã và 20 người dân chịu ảnh hưởng ngập lụt nặng nề. Kỹ thuật quan sát thực địa được tiến hành trong mùa mưa bão tháng 9 và tháng 10 năm 2015 nhằm ghi nhận cao độ nền nhà, tình trạng ứ nghẽn cống rãnh và nhịp sống sinh hoạt lúc ngập lụt. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và phân tích thông qua phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22.0. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp vừa khái quát hóa được xu hướng hành vi của cộng đồng, vừa làm sáng tỏ những rào cản nội tại mà các con số thống kê đơn thuần không thể phản ánh trọn vẹn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát xã hội học trên 150 mẫu nghiên cứu đã làm sáng tỏ 4 phát hiện căn bản về thực trạng và phản ứng xã hội trước thiên tai đô thị:
Thứ nhất, cơ cấu nhân khẩu học phản ánh sự nhạy cảm cao của nhóm cư dân trụ cột. Mẫu nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nữ giới chiếm 54,0% (81 người) và nam giới chiếm 46,0% (69 người). Độ tuổi lao động chính từ 36 đến 55 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 56,7% (85 người), nhóm trên 55 tuổi chiếm 23,3% (35 người), trong khi nhóm thanh niên từ 18 đến 35 tuổi chiếm 20,0% (30 người). Trình độ học vấn phân bổ chủ yếu ở bậc THPT với 36,0% và THCS với 30,0%, trong khi trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt 15,3%.
Thứ hai, mức độ tổn thương sức khỏe và môi trường sống diễn ra nghiêm trọng. Khi xảy ra các trận ngập kéo dài từ 1 đến nhiều giờ, khoảng 68% hộ dân cho biết họ phải đối mặt với các bệnh lý về da liễu, đau mắt đỏ và các bệnh truyền nhiễm đường tiêu hóa do nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm. Nhóm người cao tuổi trên 55 tuổi và trẻ em là những đối tượng chịu tác động tiêu cực nặng nề nhất về thể trạng.
Thứ ba, sự đứt gãy về sinh kế và sụt giảm thu nhập rõ rệt. Khoảng 62% số hộ kinh doanh dịch vụ, buôn bán nhỏ tại mặt đường và ngõ sâu bị đình trệ hoạt động hoàn toàn trong những ngày ngập úng. Thiệt hại tài sản do xe máy hư hỏng, đồ gỗ ngấm nước và hàng hóa hư hao làm giảm từ 15% đến 30% thu nhập bình quân tháng của các hộ gia đình tự doanh.
Thứ tư, tính tự phát và đơn độc trong các chiến lược ứng phó. Trước ngập lụt, trên 75% người dân chủ động theo dõi thời tiết và dùng bao cát, tấm chắn ngăn nước. Trong khi ngập, 88% hộ dân lựa chọn giải pháp tự kê cao đồ đạc và sử dụng máy bơm nước mini. Sau khi nước rút, 100% hộ dân tiến hành dọn bùn rác khử trùng, trong đó trên 45% hộ gia đình đã tự bỏ kinh phí để nâng nền nhà và sân cao hơn mặt đường từ 20cm đến 50cm.
Thảo luận kết quả
Thực trạng ngập úng tại Tân Mai và Tân Triều phản ánh sự bất cập sâu sắc trong quy hoạch đô thị. Tại các biểu đồ phân tích tương quan, tác động của ngập lụt đến thu nhập được thể hiện rõ nét qua việc nhóm lao động tự do và tiểu thương chịu thiệt hại gấp 2,5 lần so với nhóm cán bộ công chức có lương cố định. Dữ liệu này có thể được trình bày hiệu quả qua biểu đồ cột kép so sánh mức độ biến động thu nhập giữa hai địa bàn, cùng bảng tổng hợp phân loại 5 nhóm bệnh dịch phổ biến phát sinh sau ngập.
Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các nhận định của David Satterthwaite (2008) khi phân tích rủi ro đô thị tại các nước đang phát triển, cũng như nghiên cứu của Hồ Long Phi (2011) tại TP. Hồ Chí Minh, nơi có trên 70 điểm ngập khi mưa đạt vũ lượng từ 40mm trở lên. Điểm khác biệt quan trọng của nghiên cứu này là làm rõ sự thụ động trong việc kích hoạt nguồn vốn xã hội. Mặc dù tinh thần tương thân tương ái xóm giềng có xuất hiện, nhưng sự liên kết giữa hộ dân và chính quyền địa phương vẫn mang tính hình thức. Người dân chủ yếu tự lực cánh sinh bằng các biện pháp cơ học ngắn hạn thay vì có được một mạng lưới an sinh và phòng ngừa rủi ro bền vững.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và hành động cụ thể nhằm nâng cao năng lực ứng phó ngập úng đô thị:
-
Nâng cấp và khơi thông đồng bộ hệ thống hạ tầng thoát nước: Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì cần chủ trì phối hợp với Công ty Thoát nước Hà Nội tiến hành nạo vét toàn diện mạng lưới cống rãnh, nạo vét bùn thải tại các hồ điều hòa xung quanh khu vực xóm Lẻ, xóm Chùa (Tân Triều) và các tổ dân phố 28-31 (Tân Mai). Mục tiêu đạt 100% các điểm đen ngập úng được khơi thông dòng chảy trước quý II năm 2017, đảm bảo nước rút hoàn toàn trong vòng 30 phút sau khi dứt mưa lớn.
-
Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm và truyền thông rủi ro tại cơ sở: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp phường/xã cần xây dựng kênh thông tin cảnh báo ngập lụt đa phương tiện qua tin nhắn SMS và hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Đơn vị cần hoàn thiện hệ thống này trong năm 2017, hướng tới chỉ tiêu 95% hộ dân nhận được thông báo về cấp độ mưa và nguy cơ ngập trước ít nhất 2 giờ để chủ động di dời tài sản.
-
Thành lập quỹ hỗ trợ tài chính cộng đồng cải tạo công trình chống ngập: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương cần đứng ra vận hành quỹ tín dụng vi mô, phối hợp cùng các ngân hàng chính sách xã hội cung cấp các gói vay ưu đãi lãi suất thấp. Mục tiêu trong giai đoạn 2017–2019 hỗ trợ tối thiểu 80% hộ nghèo và cận nghèo có điều kiện tôn cao nền nhà, lắp đặt cửa ngăn nước chuyên dụng và trang bị máy bơm thoát nước tự động.
-
Chuẩn hóa quy trình vệ sinh dịch tễ và bảo đảm y tế công cộng sau ngập: Trung tâm Y tế quận/huyện kết hợp cùng Trạm Y tế xã Tân Triều và phường Tân Mai triển khai cấp phát miễn phí viên khử khuẩn Cloramin B, thuốc nhỏ mắt và thuốc da liễu cho 100% người dân trong vùng ngập ngay trong vòng 24 giờ sau khi nước rút, hoàn thiện quy trình kiểm soát dịch bệnh định kỳ hàng năm từ năm 2017.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
-
Nhà quản lý đô thị và chuyên viên hoạch định chính sách thoát nước: Cung cấp bức tranh thực tế về mối tương tác giữa quy hoạch hạ tầng và đời sống dân sinh, giúp tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách công cho các dự án tiêu thoát nước trọng điểm tại vùng ven đô thị loại một.
-
Cán bộ nghiên cứu xã hội học, môi trường và biến đổi khí hậu: Học hỏi phương pháp luận ứng dụng lý thuyết Xã hội rủi ro và Vốn xã hội vào một vấn đề sinh thái đô thị cụ thể, mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa khoa học xã hội và quản trị thiên tai.
-
Học viên cao học và sinh viên các khối ngành khoa học xã hội: Tham khảo mô hình thiết kế bảng hỏi chuẩn hóa 26 câu, quy trình tính toán mẫu 150 đơn vị đại diện và kỹ thuật xử lý tương quan biến số trên phần mềm SPSS 22.0 phục vụ các đề tài nghiên cứu thực chứng.
-
Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới hành động vì khí hậu: Sử dụng dữ liệu thực nghiệm để xây dựng các dự án phát triển cộng đồng (CBA), thiết kế các khóa tập huấn nâng cao năng lực tự phục hồi và thích ứng biến đổi khí hậu cho người dân đô thị.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn tiếp cận vấn đề ngập lụt đô thị dưới góc độ chuyên ngành nào? Nghiên cứu tiếp cận hoàn toàn dưới lăng kính Xã hội học, tập trung khai thác hành vi, nhận thức và năng lực thích ứng của cộng đồng dân cư thông qua khung lý thuyết Xã hội rủi ro và Vốn xã hội, thay vì chỉ đo đạc các thông số thủy văn kỹ thuật đơn thuần.
Cỡ mẫu 150 phiếu khảo sát có đảm bảo tính đại diện khoa học không? Cỡ mẫu 150 được tính toán theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên quốc tế với độ tin cậy 95% và sai số 7% trên tổng thể 850 hộ gia đình nằm trong vùng ngập cục bộ của 2 địa bàn. Kết hợp với 26 cuộc phỏng vấn sâu, dữ liệu đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao.
Người dân tại khu vực nghiên cứu thường chọn giải pháp ứng phó nào nhiều nhất? Phần lớn người dân chọn các giải pháp tự thân và cơ học, trong đó trên 88% hộ dân tự kê kích đồ đạc, 45% hộ gia đình tự chi trả kinh phí nâng nền nhà và sân, trong khi các giải pháp liên kết cộng đồng hoặc hỗ trợ từ cơ quan chức năng vẫn còn ở mức khiêm tốn.
Đâu là nguyên nhân chính khiến hiệu quả ứng phó của người dân chưa cao? Hiệu quả ứng phó bị hạn chế do 3 nguyên nhân cốt lõi: thiếu hệ thống cảnh báo sớm chuyên biệt, hạ tầng tiêu thoát nước tại các xóm trũng chưa đồng bộ, và sự kết nối giữa người dân với mạng lưới chính quyền địa phương trong công tác phòng ngừa còn mang tính thụ động.
Kết quả của luận văn có thể áp dụng cho các địa phương khác không? Mô hình đánh giá năng lực ứng phó và khung phân tích xã hội học trong luận văn hoàn toàn có thể nhân rộng để khảo sát, phân tích tại các đô thị đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ và chịu ảnh hưởng của ngập úng như Hải Phòng, Đà Nẵng hay TP. Hồ Chí Minh.
Kết luận
- Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng ngập úng đô thị tại Hà Nội là dạng rủi ro nhân tạo phức tạp, gây xáo trộn nghiêm trọng đến sức khỏe của 68% cư dân và làm suy giảm trực tiếp từ 15% đến 30% thu nhập của nhóm lao động tự do.
- Khảo sát thực chứng trên 150 hộ dân và 26 cán bộ cho thấy hành vi ứng phó của người dân hiện nay chủ yếu mang tính tự phát, dựa vào các giải pháp cơ học tại chỗ như nâng nền nhà và sử dụng máy bơm cá nhân.
- Luận văn khẳng định vai trò quyết định của nguồn vốn xã hội nhưng chỉ ra điểm nghẽn lớn trong việc liên kết hành động giữa cộng đồng cư dân và bộ máy chính quyền cơ sở tại Tân Mai và Tân Triều.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn được đề xuất với lộ trình thực hiện từ năm 2017 đến năm 2020, hướng tới mục tiêu giảm 50% thiệt hại tài sản và kiểm soát 100% nguy cơ dịch bệnh sau lũ.
- Công trình đóng góp nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc, kêu gọi các nhà hoạch định chính sách cần nhanh chóng lồng ghép góc nhìn xã hội học vào chiến lược quản trị rủi ro thiên tai và quy hoạch đô thị bền vững tầm nhìn 2025.