CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TÁC ðỘNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ðẾN BẤT BÌNH ðẲNG THU NHẬP NÔNG THÔN – THÀNH THỊ 1.Bất bình ñẳng thu nhập nông thôn – thành thị 1.Một số khái niệm 1. ðô thị ðô thị (thành thị): Theo thông tư số 31/TTLD ngày 20 tháng 11 năm 1990 của liên Bộ Xây Dựng và ban tổ chức cán bộ của Chính phủ như sau: ðô thị là ñiểm tập trung dân cư với mật ñộ cao, chủ yếu là lao ñộng phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện.[9] Theo Nghị ñịnh số 42/2009/Nð-CP ngày 07/5/2009 [6] của Chính phủ qui ñịnh ðô thị của nước ta là các ñiểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụ thể sau: Các tiêu chuẩn cơ bản ñể phân loại ñô thị ñược xem xét, ñánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển ñô thị tại năm trước liền kề năm lập ñề án phân loại ñô thị hoặc tại thời ñiểm lập ñề án phân loại ñô thị, bao gồm: Thứ nhất: Chức năng ñô thị Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất ñịnh. Thứ hai: Quy mô dân số toàn ñô thị tối thiểu phải ñạt 4 nghìn người trở lên. 10 Thứ ba: Mật ñộ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và ñặc ñiểm của từng loại ñô thị và ñược tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
Thứ tư: Tỷ lệ lao ñộng phi nông nghiệp ñược tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải ñạt tối thiểu 65% so với tổng số lao ñộng. Thứ năm: Hệ thống công trình hạ tầng ñô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: a) ðối với khu vực nội thành, nội thị phải ñược ñầu tư xây dựng ñồng bộ và có mức ñộ hoàn chỉnh theo từng loại ñô thị; b) ðối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải ñược ñầu tư xây dựng ñồng bộ mạng hạ tầng và bảo ñảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển ñô thị bền vững. Thứ sáu: Kiến trúc, cảnh quan ñô thị: việc xây dựng phát triển ñô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc ñô thị ñược duyệt, có các khu ñô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh ñô thị, có các không gian công cộng phục vụ ñời sống tinh thần của dân cư ñô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Bất bình ñẳng thu nhập giữa nông thôn - thành thị Bất bình ñẳng thu nhập nông thôn – thành thị có thể nhìn nhận như là sự khác biệt về thu nhập thực tế giữa các nhóm dân cư của hai khu vực này.
Nếu sự sai lệch càng ít thì mức ñộ bất bình ñẳng càng thấp và ngược lại.ðo lường bất bình ñẳng Theo cách tiếp cận qui mô các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm. Một phương pháp thường ñược sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có qui mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác ñịnh xem mỗi nhóm nhận ñược bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập (ngũ phân vị). Nếu thu nhập ñược phân phối ñều cho các gia ñình, thì mỗi nhóm gia ñình sẽ nhận ñược 20% thu nhập. Nếu tất cả thu nhập chỉ tập 11 trung vào một vài gia ñình, thì hai mươi phần trăm gia ñình có thu nhập cao nhất sẽ nhận tất cả thu nhập, và các nhóm gia ñình khác không nhận ñược gì.
Khi ño lường mức ñộ bất bình ñẳng, một cách áp dụng khá hiệu quả cách ñịnh lượng này là tính chỉ tiêu tỉ lệ thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia ñình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia ñình nghèo nhất. Một cách tiếp cận khác ñể phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng ñường Lorenz trong ñó trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng. ðường chéo ñược vẽ từ gốc tọa ñộ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập nhận ñược ñúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập. Nói cách khác, ñường chéo ñại diện cho sự “công bằng hoàn hảo” của phân phối thu nhập theo qui mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau.
Còn ñường cong Lorenz biểu thị mối quan hệ ñịnh lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận ñược. Như vậy, ñường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất. ðường Lorenz càng xa ñường chéo thì thu nhập ñược phân phối càng bất bình ñẳng. ðường Lorenz và hệ số Gini 20 40 60 80 %dân số Nguồn: [ 25 , tr138] Trên cơ sở ñường Lorenz các nhà thống kê kinh tế thường tính hệ số GINI, một thước ño tổng hợp ñược sử dụng rộng rãi về sự bất bình ñẳng.
Chỉ số này ñược 12 tính bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa ñường chéo và ñường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa ñường cong ñó.1 ñó là tỉ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A +B. Hệ số GINI có thể dao ñộng trong phạm vi 0 (hoàn toàn bình ñẳng: mọi người có mức thu nhập giống nhau) và 1 (hoàn toàn bất bình ñẳng: một số ít người nhận ñược tất cả, còn những người khác không nhận ñược gì), hoặc từ 0% ñến 100% nếu ño theo phần trăm. Trong thực tế, hệ số GINI cho các nước có phân phối thu nhập chênh lệch lớn nằm giữa 0,5 và 0,7 còn những nước có phân phối tương ñối công bằng thì hệ số GINI nằm trong phạm vi 0. Tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới ñưa ra nhằm ñánh giá phân bố thu nhập của dân cư.
Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bình ñẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12% - 17% là có sự bất bình ñẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự tương ñối bình ñẳng. Kế tiếp là chỉ số Theil, nếu như GINI chỉ tính ñược bất bình ñẳng cả nước, nông thôn, thành thị là bao nhiêu, thì Theil không những tính ñược bất bình ñẳng cả nước, nông thôn, thành thị mà còn tính ñược mức chênh cụ thể giữa thành thị và nông thôn cụ thể theo cấp ñộ Cả nước\Vùng\Tỉnh. Chỉ số Theil (T) có thể viết dưới dạng sau: [ 67] Yj N Yi YiN Yj Yj Y Theil (T ) = ∑ ln = ∑ Tj + ∑ (01) i =1 Y Y j Y j Y Nj N trong ñó: Y: tổng thu nhập hoặc tổng chi tiêu của toàn bộ dân cư, Yi: tổng thu nhập hoặc chi tiêu cá thể i, N: tổng số dân Yj: Tổng thu nhập hoặc tổng chi tiêu của nhóm J Nj số dân ở nhóm j 13 Tj ño lường bất bình ñẳng thu nhập hoặc chi tiêu giữa các nhóm j Bất bình ñẳng có thể chia thành bất bình ñẳng giữa nhóm và bất bình ñẳng nội bộ nhóm.
Vế phải của phương trình trên tách thành bất bình ñẳng nội bộ nhóm và bất bình ñẳng giữa nhóm, nhóm thứ nhất là bất bình ñẳng nội bộ nhóm, nhóm hai là bất bình ñẳng giữa các nhóm 1.Một số quan ñiểm lý luận về bất bình ñẳng nông thôn – thành thị Có rất nhiều các quan ñiểm lý thuyết phân tích các nhân tố ảnh hưởng ñến chênh lệch thu nhập giữa nông thôn- thành thị tuy nhiên chúng ta có thể tạm chia theo các nhóm quan ñiểm sau: 1.Mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp Nói ñến bất bình ñẳng nông thôn- thành thị người ta thường ñề cập ñến mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Ngay từ thế kỉ 18, 19 Adam Smith, David Ricardo ñã quan ngại về khu vực nông nghiệp [43]. Các ông cho rằng, nông nghiệp có tính kinh tế qui mô giảm dần là do ñất ñai nông nghiệp bị hạn chế. Kế tiếp, nhà kinh tế học Marshall tái khẳng ñịnh một lần nữa lo ngại về vấn ñề sự lạc hậu công nghệ trong nông nghiệp.
Do vậy, phải có sự chuyển dịch nguồn lực từ nông nghiệp sang công nghiệp hoặc từ nông thôn sang thành thị. ðầu thế kỉ 19, mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp ñược ñưa ra tranh luận khá gay gắt. Lý do bởi một số nước sau này không muốn ñi theo con ñường công nghiệp hoá theo kiểu của Anh và Pháp. Nếu theo con ñường công nghiệp hoá của Anh và Pháp sẽ mất khá nhiều thời gian khoảng 2 ñến 3 thế kỉ.
Do vậy những tranh cãi về công nghiệp hoá ở Liên Xô vào ñầu những năm 1920 ñã nảy sinh. Tại Liên Xô vào ñầu những năm 1920 người ta luôn ñặt câu hỏi làm thế nào ñể tài trợ cho công nghiệp hoá ở những nước xã hội chủ nghĩa mới ra ñời.Trong thời kì này lý thuyết của Preobrazhensky và Bukharin ñược áp dụng. Preobrazhensky cho rằng nên tập trung phát triển công nghiệp bởi công nghiệp có nhiều lợi thế hơn nông nghiệp. Ông cho ra rằng sẽ mua nông sản của nông dân với mức giá thấp nhất 14 có thể và bán các sản phẩm công nghiệp với mức cao nhất có thể.
Mức lợi nhuận ñạt ñược từ ñây sẽ tài trợ cho công nghiệp hoá. Ngược lại, Bukharin lại ủng hộ mức giá cân bằng[43]. Ông cho rằng quan ñiểm của Preobrazhensky là sai lầm. Tuy nhiên, nhà lãnh ñạo Liên Xô lúc này là Stalin ñã lựa chọn chính sách công nghiệp hoá của Preobrazhensky.
Stalin cho rằng nếu nông dân không cung cấp nông sản với giá rẻ, có thể bạo lực xảy ra ñể cưỡng ép nông dân bán sản phẩm.