Tổng quan nghiên cứu

Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tại các tỉnh miền núi phía Bắc luôn gắn liền mật thiết với bài toán sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đang trực tiếp quản lý tổng diện tích 9.474,63 ha đất quy hoạch lâm nghiệp, trong đó diện tích có rừng đạt 7.665,49 ha phân bố chủ yếu trên địa bàn 3 xã Ta Ma, Phình Sáng và Mường Khong. Đây là khu vực sinh sống của các cộng đồng dân tộc Mông, Kháng, Phù Lá và Thái với tập quán canh tác truyền thống dựa nhiều vào tự nhiên. Sức ép từ nhu cầu gỗ làm nhà, củi đun, thu hái lâm sản ngoài gỗ và chuyển đổi đất canh tác đã tạo ra những tác động tiêu cực đáng kể đến cấu trúc và trữ lượng tài nguyên rừng đầu nguồn.

Luận văn xác định mục tiêu tổng quát là đánh giá toàn diện các hình thức và mức độ tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng phòng hộ giai đoạn 2017 - 2020. Mục tiêu cụ thể gồm: nhận diện hiện trạng và cơ chế quản lý rừng hiện hành; định lượng các hoạt động khai thác lâm sản gỗ, lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc và canh tác nương rẫy; phân tích căn nguyên kinh tế - xã hội thúc đẩy các hành vi xâm lấn; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rừng bền vững. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các chỉ số đo lường chuẩn xác, hỗ trợ giảm thiểu 40% nguy cơ xâm hại rừng tự nhiên và tối ưu hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các hộ gia đình vùng đệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM) và Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF). Lý thuyết CBFM khẳng định việc trao quyền và gắn kết lợi ích kinh tế của người dân bản địa là điều kiện tiên quyết để bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên. Song song đó, luận văn tiếp cận mô hình Bảo tồn kết hợp Phát triển (Integrated Conservation and Development - ICDP) nhằm tìm điểm cân bằng giữa duy trì độ che phủ rừng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho 1.136 lao động tại Ta Ma cũng như 1.671 lao động tại Phình Sáng.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm:

  • Rừng phòng hộ đầu nguồn: Hệ sinh thái rừng giữ vai trò điều tiết nguồn nước, chống xói mòn và giảm thiểu thiên tai cho lưu vực sông suối.
  • Sức ép sinh kế: Tổng hợp các áp lực từ nhu cầu thu nhập, năng lượng sinh hoạt và đất sản xuất của hộ gia đình lên trữ lượng tài nguyên rừng.
  • Quản lý đồng tham gia: Cơ chế phối hợp trách nhiệm và quyền lợi giữa cơ quan chuyên trách với chính quyền cấp xã và các tổ bảo vệ rừng thôn bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo diễn biến rừng giai đoạn 2017 - 2019 của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuần Giáo và hồ sơ kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân các xã nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (RRA/PRA) tại 3 bản trọng điểm: Phì Cứ (xã Ta Ma), Phiêng Hoa (xã Phình Sáng) và Phiêng Hin (xã Mường Khong).

Cỡ mẫu khảo sát gồm 30 hộ gia đình, được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên chia đều thành 2 nhóm: nhóm hộ có nhận khoán bảo vệ rừng (15 hộ) và nhóm hộ không nhận khoán (15 hộ). Phương pháp này giúp đối chứng khách quan mức độ tác động giữa các chủ thể có và không có ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Nghiên cứu thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (3 cán bộ ban quản lý, 6 cán bộ xã và thôn bản) cùng 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi nhóm 5 - 7 người tiêu biểu từ 25 đến 60 tuổi). Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý thống kê mô tả, phân tích tương quan bằng phần mềm chuyên dụng nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm phản ánh sự khác biệt rõ rệt về cường độ tác động tài nguyên giữa hai nhóm hộ gia đình:

Thứ nhất, về khai thác lâm sản gỗ, 100% số hộ được phỏng vấn đều thừa nhận có vào rừng lấy gỗ phục vụ sinh hoạt. Nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng có tần suất bình quân 6,3 lần/năm với sản lượng 0,43 m3/lần, tương đương 2,74 m3/năm. Trong khi đó, nhóm hộ không nhận khoán vào rừng trung bình 8,3 lần/năm với khối lượng 0,83 m3/lần, đạt tổng lượng khai thác lên tới 6,94 m3/năm, cao gấp 2,53 lần so với nhóm hộ nhận khoán.

Thứ hai, về khai thác củi đun và lâm sản ngoài gỗ, mức độ phụ thuộc năng lượng sinh hoạt vào rừng là rất lớn. Bình quân mỗi hộ gia đình tiêu thụ 650 kg củi đun/năm qua 13 đợt thu gom. Sản lượng măng rừng khai thác dao động từ 12 đến 16 kg/hộ/năm, dược liệu tự nhiên từ 11 đến 15 kg/hộ/năm và song mây đạt 14 đến 16 cây/hộ/năm. Hoạt động này diễn ra thường xuyên ở cả 3 bản điều tra.

Thứ ba, về tình trạng săn bắt động vật hoang dã, trong khi nhóm hộ nhận khoán tại bản Phì Cứ và Phiêng Hin đạt tỷ lệ 0% tham gia săn bắn, thì nhóm hộ không nhận khoán vẫn có từ 20% đến 60% số hộ thực hiện bẫy bắt các loài thú nhỏ như sóc, dúi, chuột núi và gà rừng để cải thiện bữa ăn gia đình.

Thứ tư, về công tác quản trị và vi phạm, toàn bộ 7.665,49 ha đất có rừng của Ban quản lý hoàn toàn không còn diện tích rừng giàu, trong đó rừng phục hồi chiếm ưu thế tuyệt đối với 5.616,72 ha (tương đương 73,27%), rừng trung bình chiếm 1.052,65 ha và rừng nghèo chiếm 996,12 ha. Giai đoạn 2017 - 2019 ghi nhận 1 vụ phá rừng quy mô 27,2 ha vào năm 2017, 5 vụ khai thác trái phép với 7,7 m3 gỗ tịch thu và 1 vụ cháy rừng thiệt hại 2 ha vào năm 2019.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu tài nguyên phản ánh thực trạng rừng phòng hộ Tuần Giáo đang trong giai đoạn phục hồi sinh thái nhạy cảm. Khi biểu diễn bằng biểu đồ cột so sánh, sự phân hóa về khối lượng gỗ khai thác (2,74 m3 so với 6,94 m3) và tần suất vi phạm giữa hai nhóm hộ minh chứng rằng chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với tiền dịch vụ môi trường rừng (chi trả cho 11 bản với 7.064,6 ha trong năm 2019) đã phát huy hiệu quả răn đe, nâng cao ý thức cộng đồng rõ rệt.

Nguyên nhân gốc rễ của các tác động bất lợi xuất phát từ áp lực kinh tế tự cung tự cấp. Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã vùng cao còn ở mức cao, như Mường Khong chiếm 52% số hộ nghèo, trong khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người hạn chế và chất lượng lao động chưa qua đào tạo chiếm đại đa số. Việc so sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng Tây Bắc khẳng định nếu không có phương án tạo sinh kế thay thế từ lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, các cam kết bảo vệ rừng rất khó duy trì tính bền vững lâu dài khi nhu cầu xây dựng nhà ở của thế hệ trẻ gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế dân sinh tại Tuần Giáo, luận văn kiến nghị 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện chính sách giao khoán và nâng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng: Rà soát, mở rộng diện tích giao khoán 100% cho các cộng đồng thôn bản tại Ta Ma, Phình Sáng và Mường Khong, nâng diện tích khoán vượt mốc 7.064,6 ha hiện tại. Đơn vị quản lý cần giải ngân minh bạch nguồn thu dịch vụ môi trường rừng định kỳ hàng quý, đảm bảo đóng góp từ 15% đến 20% vào tổng thu nhập tiền mặt của hộ nghèo trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tuần Giáo phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã.

  2. Chuyển giao mô hình nông lâm kết hợp và phát triển lâm sản ngoài gỗ: Triển khai trồng thử nghiệm và nhân rộng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao dưới tán rừng như sa nhân tím, thảo quả, giảo cổ lam và măng bát độ trên diện tích 150 ha rừng phục hồi. Mục tiêu nâng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ hợp pháp lên 25 - 30 triệu đồng/hộ/năm trong giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tuần Giáo cùng Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp.

  3. Tăng cường năng lực tuần tra và ứng dụng công nghệ giám sát rừng: Kiện toàn 11 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại các bản; bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị lâm nghiệp cho đội ngũ 18 cán bộ của Ban quản lý rừng phòng hộ; trang bị thiết bị định vị vệ tinh và máy bay không người lái để kiểm soát biến động tài nguyên, phấn đấu giảm 100% các vụ phá rừng quy mô trên 1 ha từ năm 2022. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm Tuần Giáo và Ban Quản lý rừng phòng hộ.

  4. Quy hoạch phân vùng chăn thả và thúc đẩy chuyển đổi bếp đun tiết kiệm năng lượng: Xây dựng quy ước bản về khoanh vùng bãi chăn thả gia súc tập trung ngoài ranh giới rừng phòng hộ xung yếu; hỗ trợ 100% hộ dân tiếp cận mô hình hầm khí sinh học biogas hoặc bếp đun cải tiến, hướng đến cắt giảm 50% khối lượng củi đun khai thác (tương đương giảm 325 kg củi/hộ/năm) vào năm 2024. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Tuần Giáo và Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của công trình nghiên cứu mang lại giá trị thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý rừng phòng hộ và lực lượng kiểm lâm địa bàn: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 5 năm, hoàn thiện quy chế phối hợp tuần tra và thiết lập định mức giao khoán bảo vệ rừng sát với thực tiễn cơ sở.
  • Cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện và tỉnh: Giúp các nhà quản trị địa phương có góc nhìn toàn diện về bài toán dung hòa giữa xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào thiểu số và mục tiêu an ninh môi trường sinh thái lưu vực sông Đà.
  • Nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp bộ khung phương pháp luận chuẩn xác về điều tra xã hội học lâm nghiệp (RRA/PRA) cùng hệ thống số liệu định lượng chi tiết làm tài liệu tham khảo giảng dạy và phát triển đề tài mở rộng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển nông thôn: Cung cấp thông tin nền tảng về sinh kế bản địa, phục vụ việc thiết kế các dự án tài trợ sinh kế dưới tán rừng và bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động khai thác gỗ của người dân Tuần Giáo chủ yếu phục vụ mục đích gì? Người dân khai thác gỗ tự nhiên gần như hoàn toàn nhằm phục vụ nhu cầu làm nhà ở truyền thống, dựng chuồng trại chăn nuôi và sửa chữa công trình gia dụng. Lượng gỗ tiêu thụ trung bình của một hộ không nhận khoán lên tới 6,94 m3/năm, tập trung vào các loại gỗ nhóm thông thường và một phần gỗ nhóm hai.

Chính sách giao khoán bảo vệ rừng có thực sự giúp giảm tác động tiêu cực đến rừng phòng hộ không? Chính sách giao khoán tạo chuyển biến rất tích cực. Số liệu chứng minh các hộ tham gia nhận khoán chỉ khai thác 2,74 m3 gỗ/năm (thấp hơn 60% so với hộ không nhận khoán), giảm 33% số lần vào rừng và 100% hộ nhận khoán tại các điểm nghiên cứu không tham gia săn bắt động vật rừng hoang dã.

Tại sao cơ cấu rừng phòng hộ tại Tuần Giáo không còn diện tích rừng giàu? Trải qua thời gian dài chịu tác động từ tập quán du canh nương rẫy cũ, khai thác gỗ lâm trường trước đây và nhu cầu sinh kế của dân cư, diện tích rừng giàu nguyên sinh đã bị suy thoái hoàn toàn. Hiện tại, diện tích đất có rừng 7.665,49 ha chủ yếu là rừng phục hồi (5.616,72 ha) và rừng trung bình (1.052,65 ha).

Cộng đồng thu hái những loại lâm sản ngoài gỗ nào nhiều nhất trong năm? Các loại lâm sản ngoài gỗ phổ biến nhất gồm có măng rừng (12 - 16 kg/hộ/năm), củi đun sinh hoạt (650 kg/hộ/năm), cây dược liệu như bình vôi, sa nhân (11 - 15 kg/hộ/năm) cùng các loại rau rừng, nấm ăn và song mây phục vụ đời sống hằng ngày.

Giải pháp nào được đánh giá là then chốt để ngăn chặn bền vững việc xâm hại rừng phòng hộ? Giải pháp then chốt là phát triển sinh kế bền vững dưới tán rừng kết hợp chi trả dịch vụ môi trường rừng. Khi người dân có nguồn thu nhập ổn định 25 - 30 triệu đồng/năm từ trồng dược liệu, cây lâm sản ngoài gỗ và tiền công nhận khoán, họ sẽ chủ động chuyển đổi từ vị thế người khai thác sang người bảo vệ rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa chính xác các hình thức tác động tài nguyên rừng của cộng đồng tại huyện Tuần Giáo, chỉ ra mức khai thác gỗ chênh lệch rõ rệt giữa hộ nhận khoán (2,74 m3/năm) và hộ không nhận khoán (6,94 m3/năm).
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi của tình trạng xâm hại rừng bắt nguồn từ bài toán nghèo đói và áp lực sinh kế tự nhiên của đồng bào các dân tộc thiểu số tại 3 xã Ta Ma, Phình Sáng và Mường Khong.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng quản trị của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tuần Giáo trên tổng diện tích 9.474,63 ha, khẳng định vai trò trụ cột của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với 11 cộng đồng thôn bản.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn bao gồm mở rộng giao khoán bảo vệ rừng, phát triển sinh kế lâm sản ngoài gỗ, hiện đại hóa công tác tuần tra và quy hoạch bãi chăn thả kết hợp tiết kiệm năng lượng chất đốt.
  • Lộ trình triển khai đồng bộ các khuyến nghị trong giai đoạn 2021 - 2025 kỳ vọng sẽ bảo vệ vững chắc 7.665,49 ha rừng hiện có, nâng cao độ che phủ và đảm bảo ổn định an sinh xã hội bền vững cho khu vực vùng cao Điện Biên.

Các cơ quan quản trị lâm nghiệp, nhà khoa học và tổ chức phát triển quan tâm có thể khai thác trực tiếp hệ thống dữ liệu điều tra thực địa của luận văn để áp dụng vào các chương trình quản trị tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng trên toàn tuyến Tây Bắc.