Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 123doc 4 Chương 2. Nông dân, nông thôn Theo Bùi Quang Dũng (2012) thì nông dân là người dân làm nghề nông. Người nông dân vừa là tác nhân kinh tế, vừa là chủ một gia đình.
Một gia đình nông dân không đơn giản là một đơn vị sản xuất, đó cũng là một đơn vị tiêu dùng. Gia đình nông dân không chỉ nuôi dưỡng các thành viên của nó mà còn cung cấp cho họ những hoạt động khác. Theo Phan Văn Thạng (2008) thì nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian - lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Hộ gia đình, nông hộ Hộ gia đình là một khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng.
Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý. Trong đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (kể cả nhận con nuôi) vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội. Do tác động của nền kinh tế thị trường, hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam được phân loại thành: hộ gia đình thuần nông, hộ gia đình nông nghiệp - phi nông nghiệp, hộ gia đình phi nông nghiệp. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì nông hộ là gia đình nông dân ở nông thôn, sinh sống bằng nghề nông hoặc một số ngành nghề phụ khác.
Nông hộ là đơn vị sản xuất quan trọng đối với nông nghiệp. Liên hợp quốc (1993) khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, làm chung và có chung một ngân quỹ. 123doc 5 Theo Frank Ellis (1993) thì nông hộ được khái niệm như là một hộ gia đình mà trong đó các thành viên trong nông hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp hoặc theo Nguyễn Lân (2000) thì nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông. Như vậy, nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau. Thu nhập Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong một ngày, 1 tuần hay 1 tháng; hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân/người/tháng được tính bằng cách chia tổng số thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
Thu nhập của hộ gia đình Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… 123doc 6 Cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập. Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,… 2.
Rừng và giao đất, giao rừng Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên (Luật Bảo vệ và phát triển rừng, 2004). Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Giao đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất (Luật đất đai, 2003). Giao đất khác với cho thuê đất.
Cho thuê đất là hình thức Nhà nước hoặc các chủ sử dụng đất tạm thời chuyển quyền sử dụng đất của mình cho các chủ thuê đất thông qua hợp đồng thuê đất phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Giao đất, cho thuê đất là nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai, được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua giao đất và cho thuê đất. Việc giao đất và cho thuê đất phải đảm bảo các nguyên tắc là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đúng thẩm quyền; đúng đối tượng; theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; đúng hạn mức, thời hạn; do UBND các cấp có thẩm quyền thực hiện.
Việc giao đất, cho thuê đất được thực hiện thông qua các hình thức Nhà nước có thu tiền và không thu tiền sử dụng (Luật Đất đai, 2003). Giao rừng là việc Nhà nước thực hiện trao quyền sử dụng đất và rừng cho các đối tượng trong xã hội.Hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp chỉ có quyền sử dụng đất; được giao rừng tự nhiên chỉ có quyền sử dụng rừng, chứ không có quyền sở hữu rừng. Rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư thì có quyền sở hữu rừng (Luật Bảo vệ và phát triển rừng, 2004). 123doc 7 Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004), giao rừng được Nhà nước triển khai với nhiều đối tượng khác nhau: (1) Ban quản lý vườn quốc gia, Ban quản lý khu bảo tồn; (2) Ban quản lý rừng phòng hộ; (3) Lâm trường/công ty kinh doanh rừng; (4) Cộng đồng thôn, bản, xã; (5) Hộ gia đình/cá nhân; (6) Các tổ chức chính trị xã hội dân sự khác như Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên.
Chính sách và đánh giá chính sách Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1992), chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra. Theo Anderson (2003), chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề. Hay chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy (Nguyễn Minh Thuyết, 2010 được trích trong Võ Thanh Sơn, 2013). Như vậy, khi xem xét chính sách, chúng ta thấy có một số đặc điểm chung: Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; Nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; Chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng (Ngô Tự Nam, 2012).
Đánh giá chính sách là đánh giá tính toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách, nhằm điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và thực tế (Nguyễn Minh Thuyết, 2010 được trích trong Võ Thanh Sơn, 2013). Theo Ngô Tự Nam (2012), đánh giá chính sách là phân tích động lực của chính sách, tính cấp bách của chính sách, đồng thời dự báo hiệu quả của chính sách khi tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) thì đánh giá chính sách là quá trình xem xét, đánh giá mục tiêu, nội dung và các ảnh hưởng của chính sách, để từ đó đưa ra những kiến nghị về chính 123doc 8 sách trên cơ sở lợi ích xã hội. Phương pháp đánh giá tác động chính sách Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá tác động chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng.
Đây là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng. Đánh giá chính sách bao gồm: Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, vấn đề cần giải quyết là gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị trí như thế nào? Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không? Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại.