Mở đầu Chƣơng 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục (LUAN.dinh 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dinh CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái niệm chung NTTS: là hoạt động nuôi các loài thủy sinh vật trong môi trƣờng nƣớc ngọt và nƣớc mặn/lợ, bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất tiến bộ, an toàn vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng nguyên liệu thủy sản. NTTS Mang lại lợi ích kinh tế cho con ngƣời, có tác động tích cực về mặt xã hội, không gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng và không tác động đến nguồn lợi tự nhiên [1]. Bãi bồi ven biển: là bộ phận đáy thung lũng tƣơng đối rộng và khá bằng phẳng đƣợc bao phủ bằng lớp trầm tích hoặc bồi tích và chỉ bị ngập lụt vào mùa mƣa lũ [8]. BĐKH: là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
Nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là thời tiết trungbình và những biến động của nó trong vài thập kỷ hoặc dài hơn thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu [42]. Theo Điều 1, điểm 2 của Công ƣớc khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) năm 1992, biến đổi khí hậu là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con ngƣời gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát đƣợc trong những thời kỳ có thể so sánh đƣợc [40]. BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc sự dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn [6]. Biểu hiện của biến đổi khí hậu[43]: - Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu; - Sự dâng cao mực nƣớc biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan; - Sự thay đổi thành phần và chất lƣợng khí quyển; - Sự thay đổi cƣờng độ hoạt động của quá trình hoàn lƣu khí quyển, chu trình tuần hoàn nƣớc trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác; - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lƣợng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển; Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực NBD thƣờng đƣợc coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu.dinh 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dinh Thời tiết: là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể đƣợc đặc trƣng bởi các đại lƣợng đo đƣợc nhƣ nhiệt độ, độ ẩm, gió, lƣợng mƣa,… hoặc các hiện tƣợng quan trắc đƣợc nhƣ sƣơng mù,dông, mƣa, nắng [23] Khí hậu: là sự tổng hợp của thời tiết đƣợc đặc trƣng bởi giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo đƣợc hoặc quan trắc đƣợc của các yếu tố và hiện tƣợng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thƣờng là hàng chục năm [23].
Đánh giá tác động của BĐKH: là nghiên cứu xác định các ảnh hƣởng của BĐKH lên môi trƣờng và các hoạt động kinh tế-xã hội của địa phƣơng.Ngoài các ảnh hƣởng bất lợi còn có thể có các ảnh hƣởng có lợi.Đánh giá tác động của BĐKH cũng bao gồm việc xác định và đánh giá các giải pháp thích ứng với BĐKH [37]. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH: là đánh giá mƣc độ dễ bị ảnh hƣởng của một hoặc nhiều đối tƣợng bao gồm các cộng đồng, khu vực, nhóm ngƣời hoặc hoạt động KTXH dƣới tác động của BĐKH. Mức độ dễ bị tổn thƣơng của một đối tƣợng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của BĐKH mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của đối tƣợng đó. Kết quả đánh giá tổn thƣơng có thể đƣợc thể hiện trên ma trận hoặc các bản đồ tổn thƣơng chỉ ra các vùng, các khu vực và nhóm dân cƣ có khả năng dễ bị tổn thƣơng cao do BĐKH [37].
Ứng phó với BĐKH: là những hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng với BĐKH (thay đổi để thích hợp) và giảm nhẹ tác nhân gây ra hiện tƣợng BĐKH (giảm hàm lƣợng khí nhà kính trong bầu khí quyển) [37]. HST khu NTTS đƣợc hiểu là một HSTNN trong đó có sự can thiệp trực tiếp của con ngƣời vào hầu hết các thành phần trong HST. Tuy nhiên, HST khu NTTS cũng có những đặc trƣng riêng. Tùy vào mực độ đầu tƣ, trình độ kỹ thuật, hình thức canh tác…mà con ngƣời tác động vào HST khu NTTS có mức độ khác nhau.
Do đó, sự trao đổi của dòng năng lƣợng vật chất trong chu trình chuyển vật chất cũng có sự khác nhau khi có mức độ tác động khác nhau của con ngƣời vào HST khi NTTS. Cũng nhƣ HSTNN, HST khu NTTS cũng bao gồm 2 thành phần cơ bản của một hệ sinh thái là quần xã sinh vật và môi trƣờng vô sinh tự nhiên bao gồm các chất hữu cơ, các chất vô cơ và yếu tố khí hậu. Tóm lại, HST khu NTTS là một HST có tổ chức và có sự tƣơng tác giữa các thành phần bao gồm quần thể loài nuôi chính, quần thể các loài tự nhiện trong khu vực nuôi trồng và các yếu tố môi trƣờng vô sinh khác, dƣới sự quản lý và vận hành của con ngƣời. Sự tƣơng tác này đã hình thành nên một cấu trúc hoàn chỉnh của HST và khu NTTS [25].dinh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hƣởng của BĐKH đến hoạt động NTTS 1. Trên thế giới Theo Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007), hiện có 3 cách tiếp cận trong nghiên cứu tác động của BĐKH. Đó là: Tiếp cận tác động (impact-based approach), tiếp cận tƣơng tác (interaction approach), và tiếp cận tổng hợp (integrated approach). Xét một cách tƣơng đối, các hƣớng nghiên cứu BĐKH nói chung và nghiên cứu BĐKH trong ngành thủy sản có thể đƣợc phân thành các nhóm nhƣ: phân tích đánh giá sự tổn thƣơng, phân tích đánh giá giảm thiểu BĐKH, phân tích đánh giá khả năng thích ứng, phân tích đánh giá khả năng chống chịu và phân tích đánh giá tác động của BĐKH (trên các phƣơng diện vật chất, sinh lý, sinh học, sinh thái môi trƣờng, kinh tế, xã hội và chính sách thể chế) [42].
Sự nóng lên bất thƣờng của khí hậu toàn cầu hiện nay đƣợc hiểu nhƣ biến đổi khí hậu hiện đại, ngoài các nguyên nhân tự nhiên, vai trò đóng góp của con ngƣời rất quan trọng. Đó là sự gia tăng hiệu ứng nhà kính do sự gia tăng đột biến hàm lƣợng các chất KNK từ các hoạt động của con ngƣời. Kể từ cuộc Cách mạng công nghiệp năm 1750 đến nay, con ngƣời đã thải ra gần 2.000 tỷ tấn carbon dioxide (CO 2) vào không khí. Theo báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đƣa ra tại hội nghị toàn cầu năm 2014 đƣợc tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch thì con ngƣời không còn nhiều thời gian để chống lại sự biến đổi của khí hậu, cần phải hạn chế việc phát thải hàm lƣợng khí nhà kính để nhiệt độ trái đất cao nhất chỉ tăng lên 2 0C vào cuối thế kỷ đó là ngƣỡng cao tối đa mà bề mặt trái đất có thể chịu đựng đƣợc để cân bằng năng lƣợng.
Nghị định thƣ Kyoto năm 1997 vẫn còn tranh cãi và hoài nghi về vấn đề liệu BĐKH có xảy ra hay không và có phải nguyên nhân do con ngƣời gây ra hay không thì ngày nay cuộc tranh luận này không còn nữa và vấn đề BĐKH ngày càng đƣợc nhắc đến. Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên đã trở thành thƣớc đo phổ biến về thực trạng khí hậu toàn cầu. Theo số liệu quan trắc năm 2009 tổng lƣợng CO2 trong khí quyển là 387 ppm, đến năm 2016 lƣợng khí CO2 trong khí quyển đã lên đến 403ppm (IPCC). Nhiệt độ trái đất tăng tỷ lệ thuận với lƣợng KNK tăng trên bầu khí quyển vì vậy BĐKH đã xảy ra với cƣờng độ ngày càng mạnh.
Lĩnh vực thủy sản đƣợc xác nhận là ngành phát thải thấp, ít đóng góp vào nguyên nhân gây BĐKH nhƣng lại là ngành chịu tác động nhiều nhất do tác động của BĐKH gây ra.Trên thế giới có khoảng 2,7 tỷ ngƣời chiếm hơn40% dân số toàn cầu[48] đang (LUAN.dinh 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dinh sinh sống ở các vùng ven biển.Đây là khu vực phát triển năng động nhƣng là vùng dễ bị tổn thƣơng nhất trƣớc những thay đổi của khí hậu.Các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển tuy phát thải thấp lƣợng KNK vào khí quyển nhƣng lại là các nƣớc chịu tác động nhiều nhất của BĐKH [48]. Theo thứ tự xếp hạng toàn cầu 10 nƣớc chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất của BĐKH: Băng la đét, Cộng hòa Do-me-ni-ca-na, Ha-i-ti, Ôn-du-rát, Triều Tiên, My-an-ma, Ni-ca-ra-goa, Pa-ki-xtan, Phi-lip-pin, và Việt Nam [41]. Dựa vào luận cứ nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học ở những châu lục khác nhau, báo cáo của IPCC năm 2014 kết luận: “Hầu hết các hệ sinh thái biển, đại dương và nguồn lợi thủy sản kèm theo đều bị tác động đáng kể do ảnh hưởng của BĐKH với những biểu hiện: biến đổi về nhiệt độ và biến đổi về lượng mưa, NBD và tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra làm thay đổi môi trường sống của các loài thủy sản ảnh hưởng đến sinh kế của cư dân ven biển trên toàn thế giới”. Báo cáo còn nhấn mạnh nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, các biểu hiện của BĐKH còn diễn biến phức tạp sẽ làm tuyệt chủng một số loài thủy sản biển, làm đột biến thay đổi gen một số loài, lúc đó nguồn thực phẩm quan trọng của con ngƣời sẽ hạn chế, hệ sinh thái biển suy thoái.
Theo một đánh giá của ngành công nghiệp nuôi hàu của Úc do Peat Leat Leith và Marcus Haward nghiên cứu năm 2010 cho rằng BĐKH đã và sẽ ảnh hƣởng đến nghề nuôi ngao theo nhiều hƣớng và nhiều khu vực khác nhau do sự thay đổi lƣợng mƣa, thay đổi tần suất của các đợt nắng nóng, NBD và hiện tƣợng axit hóa đại dƣơng.