mở đầu: vi khuẩn bắt đầu bám vào bề mặt răng. Các mối tương tác đặc hiệu và không đặc hiệu giữa bề mặt răng và tế bào xuất hiện dẫn đến sự tạo liên kết và sự xâm chiếm dần dần. Giai đoạn bùng nổtăng trưởng: hình thành biofilm đồng thời với sự sinh tổng hợp polymer ngoại bào. Giai đoạn mất đi các tế bào trên mảng bám 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh răngvào nước bọt: thúc đẩy sự xâm nhập của các cơ thể vi sinh vật mới vào các vị trí vừa được giải phóng trên mảng bám răng [43].
Vi khuẩn được vận B.Các liên kết không thuận C.Sự đồng gắn kết của các cơ chuyển đến bề mặt của răng nghịch hình thành do mối thể vi khuẩn vào các tế bào đã và bám vào răng nhờ các lực tương tác phân tử hoá lập thể định cư trước. Sự bùng nổ tĩnh điện yếu. giữa tế bào vi khuẩn và các tăng trưởng để hình thành receptor trên bề mặt răng. biofilm đồng thời với sự sinh tổng hợp polymer ngoại bào.
Ba giai đoạn chính hình thành mảng bám răng [43] 1. Cơ chế gây sâu răng Bệnh sâu răng được khởi đầu bằng sự hình thành mảng bám răng (dental plaque). Hydrat cacbon trong thức ăn được chuyển hoá thành glucose. Glucose sau đó được polymer hoá thành dextran bởi enzyme dextranase và glucosyltransferase.
Dextran có tính dính bám nên tạo điều kiện để các vi khuẩn khác và các mảnh thức ăn bám thêm vào. Sự dính bám còn được gia tăng bởi những protein trên bề mặt vi khuẩn đang sinh sống tại đó và các polysaccharide do chúng chuyển hoá tạo ra như là các glucan [38],[43]. Việc hình thành nhiều lớp vi khuẩn cộng với thức ăn còn tạo ra môi trường cho cả các vi khuẩn kỵ khí sinh sống. Quá trình tiêu thụ đường thông qua con đường glycolysis với sự sinh acid bởi vi khuẩn làm cho pH trong mảng bám rănggiảm xuống thấp, thậm chí 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh dưới 4,0.
Ở điều kiện pH thấp này, lớp men răng bị bào mòn và dẫn đến sâu răng. Các vi khuẩn tham gia chủ yếu vào quá trình này là các Streptococcus mutans. sobrinus và một số chủng lactobacillus[38]. Acid do chúng sinh ra còn tấn công cả phần lợi gây ra một số bệnh như viêm nướu răng (gingivitis), viêm quanh răng (periodontal diseases).
Vì vậy có thể nói, bệnh sâu răng chủ yếu là do vi khuẩn gây ra và kiểm soát vi khuẩn trên mảng bám là biện pháp hữu hiệu để phòng chống sâu răng.Vi khuẩn Streptococcus mutans Streptococcus là các vi khuẩn Gram (+), gồm một lượng lớn các loài, phân bố rất rộng rãi trong tự nhiên. Một số là các nhân tố gây ra những bệnh nguy hiểm như viêm phổi (pneumonia), sốt phát ban (scarlet fever), viêm màng não (meningitis)… Sử dụng kỹ thuật phân tích trình tự ADN mã hoá cho ARN ribosome 16S, sơ đồ phả hệ của streptococci đã được xây dựng [43]. Trong sơ đồ đó, ngoài thành viên của hai nhóm Pyrogenic và Bovis cùng với Streptococcus pneumoniae (nhóm mitis),Streptococcus thermophilus (nhóm salivarius),Streptococcus suis,Streptococcus acidominimus, là các streptococci không sinh sống trong miệng động vật, còn lại đều là streptococci xoang miệng (oral streptococci). Ở xoang miệng của người chỉ thấy hai thành viên của nhóm mutans là Streptococcus mutans và Streptococcus sobrinus [43].
Streptococcus mutans lần đầu tiên được Clark mô tả năm 1924 sau khi phân lập được nó từ vùng răng bị tổn thương. Tuy vậy phải đến thập niên 60, khi các nhà khoa học tập trung nghiên cứu bệnh sâu răng từ giai đoạn sớm, vi khuẩn này mới được chú ý đến nhiều. Cũng từ đó, rất nhiều dòng mang những đặc tính hoá sinh tương tự nhau nhưng hoàn toàn phân biệt bởi chỉ thị kháng nguyên đã được phân lập. Tổng cộng có 7 kiểu chỉ thị kháng nguyên đã được mô tả là a, b, c, d, e, và f[43].
Những nghiên cứu về sau trên protein, cấu trúc màng, ADN 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh tổng số cũng khẳng định có rất nhiều các biến thể ở những vi khuẩn vốn vẫn được coi là S. Dựa trên tất cả các nghiên cứu, S. mutans được chia nhỏ thành rất nhiều dưới loài riêng biệt. Từ đó, đã ra đời cụm từ "mutans streptococci" và tên gọi S.
mutans không còn thực sự chính xác về mặt phân loại, tuy nhiên, nó vẫn còn được dùng như một thói quen để gọi tên dòng Streptococcus xoang miệng phổ biến nhất ở người [43]. Vi khuẩn Streptococcus mutans S. mutans được phát hiện ở tất cả các mảng bám răng và có tỉ lệ rất cao ở những vùng răng sâu. Các nghiên cứu khác nhau [38], [43] cũng đã chỉ ra đây chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh sâu răng.
Sở dĩ như vậy là vì S. mutans có những đặc điểm đặc biệt, đó là: i) có khả năng chuyển hoá được nhiều loại hydrat cacbon khác nhau, ii) chuyển hoá đường bằng con đường lên men sinh ra rất nhiều acid lactic, iii) chống chịu được pH rất thấp của môi trường, iv) có khả năng sinh polysaccharide ngoại bào (EPS) mạnh.Do vậy, vi khuẩn này thường được sử dụng như là đối tượng điển hình cho các nghiên cứu về sâu răng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh 1. Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam Từ những năm 1940 cho đến những năm 1960, tình hình sâu răng ở các nước công nghiệp hoá rất nghiêm trọng.
Trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có tới 8- 10 răng sâu hoặc răng đã bị mất do sâu. Chỉ số DMFT ( Decayed Mising, Filling Teeths, phản ánh số răng sâu, số răng mất do sâu hoặc số răng đã trám) ở tuổi 12 của Na Uy năm 1940 cao tới mức 12,0 [2]. Tới những năm 1980, chỉ số DMFT ở tuổi 12 của các nước công nghiệp đã giảm xuống đáng kể (nằm trong khoảng từ 2-4) và chỉ còn từ 1 - 2 vào năm 1993. Tuy vậy, tại thời điểm 1997, chỉ số DMFT ở lứa tuổi trung niên (35 – 44 tuổi) tại các nước công nghiệp phát triển vẫn còn ở mức rất cao.
Ví dụ như Canada, Nhật Bản, Úc và Bắc Âu là 13,9, Hoa Kỳ là 9,0 - 13,9. Theo những thông báo gần đây, tình trạng sâu răng tuổi thanh niên của Hoa Kỳ vẫn còn ở mức cao. Cụ thể là 84% thanh niên lứa tuổi 17 có răng sâu và trung bình mỗi người có 11 mặt răng bị phá huỷ do sâu. Người từ 40 tuổi trở lên có trung bình 30 mặt răng bị sâu và 41% người từ 65 tuổi trở lên không còn răng.
Ở các nước đang phát triển như Thailand, Uganda, Zaire. chỉ số DMFT tuổi 12 cuối những năm 1960 chỉ từ 1,0 đến 3,0, nhưng lại tăng lên mức 3,0 - 5,0 và thậm chí cao hơn vào những năm 1970-1980. Nhìn chung, tình trạng sâu răng có xu hướng tăng lên ở các nước này. Tới 1997, chỉ số DMFT ở lứa tuổi 12 lớn hơn 4,4 còn gặp ở nhiều nước như Ba Lan (châu Âu), Philipin (châu Á), và Trung Mỹ.
Còn ở lứa tuổi trung niên, mức độ sâu răng cũng rất cao, trung bình mỗi người có trên 13,9 răng sâu [5]. Ở Việt Nam, các kết quả điều tra răng miệng năm 1991 của Võ Thế Quang cho thấy sâu răng ở Việt Nam tăng dần theo tuổi, cả về tỉ lệ sâu răng và chỉ số DMFT. Trần Văn Trường và cs [5] công bố tỉ lệ sâu răng ở Việt Nam sau điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 2001 là 84,9% ở lứa tuổi 6 - 7; 56,6% ở lứa tuổi 12 và 67,6% ở lứa tuổi 15. Ở người lớn, tỉ lệ này là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh 75,2% ở lứa tuổi 18 - 34 và 89,7% ở lứa tuổi trên 45.
Kèm theo đó, tỉ lệ bệnh viêm quanh răng cũng rất cao ở cả trẻ em và người lớn. Tỉ lệ người có răng khoẻ mạnh chỉ đạt mức dưới 10%. Theo số liệu mới nhất (2015) của Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam, thực tế có tới hơn 90% dân số Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề về răng miệng, trong đó phổ biến nhất là sâu răng dẫn đến mất răng [59], [60]. Đứng trước tình hình đó, ngay từ năm 1908, liên đoàn Nha khoa Quốc tế (FDI) đã rất quan tâm đến vấn đề dự phòng sâu răng, tuyên bố ủng hộ nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh, và từ đó liên tục nghiên cứu, tìm kiếm các biện pháp phòng bệnh sâu răng.
Các khuyến cáo về dự phòng sâu răng luôn được đưa ra nhằm duy trì thành tựu ở các nước công nghiệp phát triển và ngăn chặn gia tăng bệnh răng miệng ở các nước đang phát triển. WHO đã đưa ra mục tiêu cho toàn cầu năm 2010 là chỉ số DMFT phải dưới1. Tại Việt Nam, mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 ở độ tuổi 5-6 có 50% trẻ em không bị sâu răng, ở độ tuổi 18 có 85% người giữ được toàn bộ răng, ở tuổi từ 35-44 tuổi giảm 50% số người không còn răng và trên 65 tuổi giảm 25% số người không còn răng. Các biện pháp ngăn ngừa sâu răng Việc loại bỏ bằng cơ học có thể ngăn chặn hoàn toàn sự tạo mảng bám răng [43].Điều này sẽ có hiệu quả hơn nếu kết hợp với việc giảm bớt thói quen ăn các sản phẩm có đường.
Tuy vậy, việc thay đổi thói quen ăn uống và duy trì vệ sinh răng miệng tốt rất khó thực hiện. Vì vậy hàng loạt các biện pháp khác nhau nhằm ngăn chặn sâu răng đã được nghiên cứu và ứng dụng. Sử dụng chất kháng khuẩn Việc sử dụng chất kháng khuẩn để kiểm soát mảng bám răng đã được thực hiện trong nhiều năm qua, chủ yếu là những chất chống tạo mảng bám. Sử dụng nước súc miệng là cách rất có hiệu quả để đưa các chất kháng khuẩn như là các bisbiguanides, enzyme, muối kim loại, tinh dầu.
tiếp xúc với các vi khuẩn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nguyễn Vũ Anh trong mảng bám răng [43]. Khi hấp phụ vào mảng bám răng, các chất này sẽ xâm nhập dần vào bên trong mảng bám, ức chế sự phát triển hoặc quá trình trao đổi chất của vi khuẩn, làm giảm sự gắn kết của vi khuẩn với bề mặt răng vì vậy ngăn ngừa sự tạo mảng bám, hạn chế quá trình tích tụ hay liên kết bắc cầu vì vậy ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn.