CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ GIAM GIỮ TRONG NGÀNH CÔNG AN 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu 1. Nghiên cứu về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trên thế giới BĐKH là sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người - trực tiếp hay gián tiếp - làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và đóng góp vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được [9]. BĐKH liên quan đến sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu có thể được xác định (ví dụ như sử dụng các kiểm tra thống kê) bởi những thay đổi trong giá trị trung bình và/hoặc sự thay đổi các thuộc tính của nó, và trong thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc lâu hơn.
BĐKH có thể là do quá trình tự nhiên bên trong hoặc do những tác động từ bên ngoài, như sự thay đổi của chu kỳ mặt trời, hoạt động của các núi lửa hoặc tác động liên tục của con người tới các thành phần của khí quyển hay trong sử dụng đất [68]. Trong nửa cuối thế kỷ 20 và thập niên đầu của thế kỷ 21, khoa học nghiên cứu BĐKH trên thế giới gắn liền với nhiều hoạt động chính trị, xã hội. Thế giới đã sớm nhận thức được mức độ nghiêm trọng của BĐKH nên đã hành động bằng sự ra đời các hiệp định quốc tế quan trọng. Khởi đầu cho công cuộc ứng phó với BĐKH là sự ra đời của Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH (UNFCCC) (bản tiếng Anh [105] và bản tiếng Việt [9]), là một trong những kết quả quan trọng của Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio 1992 (Hội nghị bao gồm Tuyên bố của Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững với định nghĩa kinh điển về “Phát triển bền vững”).
Từ đó, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về BĐKH được tổ chức thường niên (bắt đầu từ 1995), là nơi họp mặt chính thức của các bên tham gia UNFCCC (gọi là Hội nghị các bên, viết tắt là COP) để đánh giá quá trình đương đầu với BĐKH của toàn cầu, và COP đạt được các kết quả chính như sau: Nghị định thư Kyoto (COP 3, 1997) tạo ra các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc cho các quốc gia phát triển nhằm cắt giảm phát thải khí nhà kính của họ (giảm phát thải khí nhà kính 5% vào năm 2012 so với năm 1990 [70]). Nghị định thư Kyoto có hiệu lực từ 2005 nên từ đó, COP cũng đồng thời là "Hội nghị các bên tham gia Nghị định thư Kyoto" (CMP); đồng thời thành viên của Công ước khung mà không phải thành viên của Nghị định thư cũng có thể tham gia vào các cuộc họp liên quan tới Nghị định thư trong vai trò là quan sát viên [113]. 15 z Do thời hạn năm 2012 của Nghị định thư Kyoto nên các nhà khoa học đã hối thúc COP đưa ra Kế hoạch Hành động Bali (COP 13, 2007). Kế hoạch này đề cập đến Quyết định 1/CP.13 đề ra khung đàm phán quốc tế về “.
một quá trình toàn diện nhằm thúc đẩy thực hiện Công ước đầy đủ, hiệu quả và bền vững thông qua các hành động hợp tác lâu dài từ hiện tại cho đến năm 2012 và sau đó” [1], là một quá trình kế tục Nghị định thư Kyoto trong việc đàm phán chiến lược khí hậu toàn cầu [8], cung cấp lộ trình cho các cuộc đàm phán kết thúc tại Copenhagen [108]. Thỏa thuận Copenhagen (COP 15, 2009) đã đưa ra thỏa thuận cắt giảm phát thải nhà kính đến năm 2020 với quyết định về giới hạn nhiệt độ toàn cầu tăng 2oC [93]. Thỏa thuận Copenhagen là một tài liệu chính trị 3 trang bao gồm tất cả năm phần của Kế hoạch hành động Bali và đưa ra thỏa thuận về ba vấn đề chính trong các đàm phán: giảm thiểu, minh bạch và tài chính (UNFCCC (2009) [102]. Thỏa thuận Paris thực hiện UNFCCC (Hiệp định Paris về Khí hậu) (COP 21- CMP11, 2015) là thỏa thuận lịch sử về chống BĐKH, tháo gỡ các ràng buộc về hành động và đầu tư hướng tới tương lai các-bon thấp, phục hồi lại và phát triền bền vững, đạt được sự đồng thuận của 195 nước trên thế giới [110].
Lần đầu tiên các nước trên thế giới tìm được tiếng nói chung về chống BĐKH, dựa trên trách nhiệm của mỗi nước về lịch sử, hiện tại và tương lai. Các bên tham gia cam kết và không ngừng nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính với mục tiêu có tính tham vọng cao là giữ mức tăng nhiệt độ trung bình vào cuối thế kỷ này dưới 2oC so với thời kỳ tiền công nghiệp, hướng tới mục tiêu giới hạn mức tăng ở 1,5oC [110]. Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) là một cơ quan khoa học (tập hợp các nhà khoa học của các nước thành viên Liên hiệp quốc) chịu trách nhiệm đánh giá các nguyên nhân và hậu quả về BĐKH do hoạt động con người gây ra, được thành lập năm 1988 bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) [114]. Quy mô và thành tựu nghiên cứu BĐKH trên thế giới được ghi nhận tập trung thông qua kết quả hoạt động của IPCC trong từng thời kỳ, gắn liền với các hiệp định quốc tế.
Nghiên cứu về BĐKH đã được thực hiện trong các báo cáo của IPCC: báo cáo đầu tiên của IPCC (FAR, 1990) [78] khẳng định các bằng chứng khoa học về BĐKH đã gây tiếng vang lớn, tác động đến không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả công chúng. Đây cũng là cơ sở để các nước, các tổ chức tham gia đàm phán và kết quả là UNFCCC được ký kết vào năm 1992. Kết quả của Báo cáo lần thứ hai năm 1995 (SAR) [79] là đầu vào quan trọng cho các giới hạn phát thải được đưa ra ở Nghị 16 z định thư Kyoto. Báo cáo đánh giá lần thứ 3 của IPCC (TAR, 2011) [80] đã khẳng định bằng chứng của BĐKH do tác động của con người là ngày càng rõ rệt, đồng thời báo cáo cũng đưa ra chi tiết những tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu với các khu vực trên thế giới.
Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (AR4, 2007) [82] đưa ra các luận chứng khoa học về BĐKH, các tác động và các giải pháp ứng phó tiếp tục được công bố, là đầu vào cho các quyết định về giới hạn tăng 2 oC, cơ sở cho các thỏa thuận hậu Kyoto. Báo cáo gần đây nhất của IPCC, báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5, 2013/2014) [83] đã công bố về hiện trạng BĐKH toàn cầu theo góc nhìn của vật lý cơ bản và đưa ra kịch bản phát thải khí nhà kính mới, đường phân bố nồng độ khí nhà kính đại diện (RCP). Từ các kết quả tổng quan, NCS tổng hợp và đưa ra sơ đồ hóa (hình 1.1) mô tả sự liên kết và một số mốc quan trọng trong quá trình chống lại BĐKH toàn cầu của IPCC và hành động của thế giới (thông qua ý kiến và hành động của các quốc gia). Tác động tiềm tàng của BĐKH được IPCC trình bày trong báo cáo thứ 4 [82] theo các lĩnh vực chủ yếu như sinh thái, lương thực, công nghiệp, đới bờ, cư dân y tế nguồn nước.
Về sinh thái, nơi cư trú của nhiều hệ sinh thái có thể trở thành không thích hợp do hạn hán, lũ lụt, khai thác tài nguyên quá mức,. Một số hải sản có vỏ chịu tác động xấu của các quá trình axít hóa trong biển, về lương thực sản lượng lương thực dự kiến tăng nhẹ ở các đới vĩ độ cao và trung bình, song lại giảm đi ở khu vực khác. Trên phạm vi thế giới, sản lượng lương thực tăng lên nếu nhiệt độ chỉ tăng khoảng 1 - 3°C, song lại giảm đi nếu nhiệt độ tăng nhiều hơn. Các đới bờ biển chịu nhiều rủi ro hơn do xâm thực bờ biển và nước biển dâng.
Đến khoảng thập kỷ 2080 có khoảng 20% dân số phải hứng chịu lũ lụt do nước biển dâng. Trong lĩnh vực công nghiệp, chịu tổn thương nhiều nhất là các cơ sở công nghiệp nằm trên các đồng bằng thấp và ven biển. Bác cáo thứ 4 của IPCC [82] cũng đánh giá: Đối với cư dân, chịu nhiều tổn thất trước BĐKH là các cộng đồng nghèo, về sức khỏe, hàng triệu người chịu ảnh hưởng của BĐKH, bệnh tật gia tăng tỷ lệ tử vong cao hơn do có thêm nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, BĐKH được coi là có nhiều khả năng mang lại một số lợi ích về sức khỏe ở ôn đới, song có ảnh hưởng tiêu cực ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển.
Tác động của BĐKH đến nguồn nước được coi là nghiêm trọng nhất, trước hết là gia tăng căng thẳng về nước. Dòng chảy dự kiến tăng 10 - 30% ở các vĩ độ trung bình và một số vùng nhiệt đới nhiều mưa, bao gồm Đông Á, Đông Nam Á và giảm đi 10 - 30% trên hầu hết các khu vực khô hạn ở vĩ độ trung bình và vĩ độ thấp. 17 z Chú thích: FAR, SAR, TAR, AR4, AR5, AR6: lần lượt là Báo cáo đánh giá lần thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6 của IPCC; SROCC: Báo cáo đặc biệt về BĐKH, đại dương và tầng sinh quyển; SR1.5: Báo cáo đặt biệt về tác động của sự ấm lên toàn cầu ở mốc 1,5oC; SR2: Báo cáo đặc biệt về BĐKH, sa mạc hóa, suy thoái đất, quản lý đất bền vững, an ninh lương thực và các dòng khí nhà kính trong các hệ sinh thái trên cạn; MR:Báo cáo về phương pháp luận tinh lọc kiểm kê khí nhà kính quốc gia theo hướng dẫn của IPCC 2006.1: Tóm lược lịch sử chống biến đổi khí hậu của IPCC và UNFCCC (Nguồn: NCS) 18 z 1. Nghiên cứu về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực hiện UNFCCC và Nghị định thư Kyoto.
Trong Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, bao gồm Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam ban hành năm 2004 [56] và Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh ban hành năm 2012 [55] đều đề cập đến chiến lược ứng phó với BĐKH của Việt Nam.