Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với các cơ sở giam giữ trong ngành Công an tại khu vực Bắc Trung Bộ và đề xuất các giải pháp thích ứng" được tác giả Cao Thị Thương Huyền thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, thuộc chuyên ngành Khoa học môi trường (mã số: 62440301), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Quang Cử và TS. Hoàng Xuân Cơ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu cùng các hiện tượng khí hậu cực đoan (HTKHCĐ) đang gia tăng cường độ và tần suất, tác động nghiêm trọng đến tự nhiên, hạ tầng và đời sống kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Khu vực Bắc Trung Bộ (BTB) được xác định là một trong những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của thiên tai khí hậu do địa hình hẹp, dốc và khí hậu khắc nghiệt. Trong khi đó, ngành Công an đang quản lý hệ thống cơ sở giam giữ (CSGG) gồm các trại giam (TG) và trại tạm giam (TTG), riêng khu vực BTB tập trung các cơ sở trọng điểm chiếm hơn 20% lượng can phạm nhân (CPN) của cả nước. Hoạt động giam giữ có tính chất đặc thù khép kín, yêu cầu nghiêm ngặt về an ninh, an toàn, quản lý trật tự và thực thi tố tụng hình sự.

Thực tế tại các CSGG, tình trạng quá tải buồng giam (diện tích sàn thực tế chỉ đạt khoảng 1,5–1,6 m²/người so với quy định chuẩn là 2 m²/người), cơ sở vật chất xuống cấp, nguồn cấp nước và vệ sinh môi trường thiếu thốn làm gia tăng tính tổn thương trước các tai biến thời tiết. Khi thiên tai xảy ra, điều kiện sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ (CBCS) và can phạm nhân bị xáo trộn, nguy cơ bùng phát dịch bệnh tăng cao, giao thông chia cắt, đặc biệt phát sinh rủi ro phạm nhân lợi dụng quấy phá buồng giam hoặc trốn khỏi nơi giam giữ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về BĐKH trước đây chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội truyền thống (nông nghiệp, tài nguyên nước, đô thị, lâm nghiệp), hoàn toàn vắng bóng các đánh giá tác động tổng hợp đối với hệ thống an ninh - tư pháp và các cơ sở giam giữ. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Đánh giá được tác động của BĐKH đối với các CSGG trong ngành Công an tại khu vực BTB.
  2. Đánh giá được tính dễ bị tổn thương (DBTT) do BĐKH (thông qua các HTKHCĐ) đối với các CSGG trong ngành Công an tại khu vực BTB.
  3. Đề xuất được giải pháp thích ứng với BĐKH phù hợp cho các CSGG trong ngành Công an và tại khu vực BTB.

Luận điểm bảo vệ

  • Luận điểm 1: BĐKH đã tác động toàn diện đến các mặt công tác của các CSGG tại khu vực BTB.
  • Luận điểm 2: Tính DBTT do tác động của BĐKH (thông qua các HTKHCĐ) ở các mức độ khác nhau đối với các CSGG, phù hợp với điều kiện khí hậu và đặc điểm tự nhiên của từng CSGG tại khu vực BTB.
  • Luận điểm 3: Khung thích ứng với BĐKH của các CSGG được đưa ra có sự khác biệt so với các khung thích ứng khác.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: 16 CSGG thuộc ngành Công an tại khu vực BTB, bao gồm 10 trại giam (TG) do Tổng cục Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp quản lý và 06 trại tạm giam (TTG) do Công an 6 tỉnh quản lý.
  • Phạm vi không gian: 6 tỉnh Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Đánh giá đặc điểm khí hậu và các HTKHCĐ (rét đậm, rét hại, nắng nóng, hạn hán, mưa lớn, bão) dựa trên chuỗi số liệu quan trắc khí tượng 54 năm (1961–2014); tính toán các kịch bản BĐKH và dự báo nguy cơ tổn thương của các CSGG trong thế kỷ 21 (giai đoạn 2046–2065 và 2080–2099) theo các kịch bản phát thải RCP 4.5 và RCP 8.5.
Nhóm cơ sở Ký hiệu Tên cơ sở giam giữ Vị trí hành chính (Huyện / Thị xã / TP) Tỉnh
Trại giam (TG) A1 TG Thanh Phong Nông Cống Thanh Hóa
A2 TG Thanh Lâm Như Xuân Thanh Hóa
A3 TG Số 5 Yên Định Thanh Hóa
A4 TG Thanh Cẩm Cẩm Thủy Thanh Hóa
A5 TG Số 3 Tân Kỳ Nghệ An
A6 TG Số 6 Thanh Chương Nghệ An
A7 TG Xuân Hà Thạch Hà Hà Tĩnh
A8 TG Đồng Sơn Đồng Hới Quảng Bình
A9 TG Nghĩa An Cam Lộ Quảng Trị
A10 TG Bình Điền Hương Trà Thừa Thiên – Huế
Trại tạm giam (TTG) B1 TTG Công an tỉnh Thanh Hóa TP. Thanh Hóa Thanh Hóa
B2 TTG Công an tỉnh Nghệ An Nghi Lộc Nghệ An
B3 TTG Công an tỉnh Hà Tĩnh TP. Hà Tĩnh Hà Tĩnh
B4 TTG Công an tỉnh Quảng Bình TP. Đồng Hới Quảng Bình
B5 TTG Công an tỉnh Quảng Trị TP. Đông Hà Quảng Trị
B6 TTG Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế TP. Huế Thừa Thiên – Huế

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tổng quan nghiên cứu quốc tế của luận án được tiếp cận theo ba nhánh chính:

  1. Tiến trình nghiên cứu và khung pháp lý quốc tế về BĐKH: Bắt đầu từ Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC, Rio 1992), Nghị định thư Kyoto (COP 3, 1997), Kế hoạch Hành động Bali (COP 13, 2007), Thỏa thuận Copenhagen (COP 15, 2009) đến Hiệp định Paris về Khí hậu (COP 21, 2015). Luận án điểm lại hệ thống các báo cáo đánh giá của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) từ FAR (1990), SAR (1995), TAR (2001), AR4 (2007) đến AR5 (2013/2014) với việc đưa ra các đường phân bố nồng độ khí nhà kính đại diện (RCP).
  2. Mối liên hệ giữa khí hậu và tội phạm: Các công trình quốc tế đã chứng minh mối tương quan giữa các yếu tố thời tiết cực đoan và hành vi phạm tội. Điển hình, nghiên cứu của Cục Thống kê Tư pháp Mỹ (1993–2010) chỉ ra khuynh hướng gia tăng bạo lực gia đình và xâm phạm tình dục trong các tháng mùa hè nắng nóng. Murataya và Gutierrez xác nhận thời tiết nóng ẩm làm gia tăng hành vi trộm cắp và bạo loạn ngoài xã hội khi nhiệt độ vượt 29,5°C. Linning và các cộng sự (2016) phân tích sự thay đổi tội phạm tài sản theo mùa. H. Yu và các cộng sự (2016) chỉ ra tác động của bão đối với tỷ lệ tội phạm trộm cắp và ma túy tại Đài Loan. R. Agnew (2011) phân tích nguy cơ BĐKH thúc đẩy các loại hình tội phạm an ninh môi trường xuyên quốc gia.
  3. Tác động của môi trường đến tâm lý trong cơ sở giam giữ: Bierie (2012) thông qua điều tra xã hội học khẳng định điều kiện tiện nghi cơ sở vật chất của trại giam tác động trực tiếp đến hành vi bạo lực của tù nhân; Gonçalves và các cộng sự (2016) chứng minh chất lượng môi trường không khí và vi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của phạm nhân trẻ; Lugo (2016) đánh giá điều kiện vật lý môi trường trại giam tác động tới cả phạm nhân lẫn nhân viên quản giáo.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu BĐKH gắn với Chiến lược quốc gia về BĐKH (Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011) và các bộ kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2009, 2012 và 2016. Hướng nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương (DBTT) được triển khai qua các công trình của Yusuf và Francisco (2009), Kuntiyawichai và các cộng sự (2015) trên lưu vực sông Mê Kông; Trần Thục và các cộng sự (2010) đánh giá tổn thương sinh thái và kinh tế - xã hội do nước biển dâng tại Thừa Thiên – Huế; Huỳnh Thị Lan Hương và các cộng sự (2015) về bộ chỉ số thích ứng tại Quảng Ngãi và Cần Thơ; Hoàng Lưu Thu Thủy và các cộng sự (2015) tại khu vực BTB và Hà Tĩnh; Phan Văn Tân và các cộng sự (2016) về tính DBTT do thiên tai đối với sinh kế tại Nghệ An và Hà Tĩnh.

Về phía ngành Công an, các nghiên cứu tại các CSGG trước đây chủ yếu phục vụ nghiệp vụ chuyên ngành: Phạm Văn Tiến (2014) tổng quan lịch sử phát triển trại giam; các đề tài nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm trốn trại giam, truy nã phạm nhân trốn trại của Cảnh sát THAHS và Hỗ trợ tư pháp; công tác quản giáo, điều tra án hình sự trong trại giam; hoặc các nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học cải tạo phạm nhân (Nguyễn Trọng Hiệu, Đào Việt Hưng, Lê Văn Phái...).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu quốc tế chỉ dừng lại ở góc độ hành vi tội phạm ngoài xã hội hoặc khía cạnh tâm lý vi khí hậu đơn lẻ. Ở trong nước, các nghiên cứu BĐKH hoàn toàn bỏ qua hệ thống các cơ sở an ninh giam giữ, trong khi các công trình nội ngành Công an chỉ tiếp cận góc độ nghiệp vụ điều tra, thi hành án mà chưa xem xét các rủi ro khí hậu. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập cơ sở khoa học và thực tiễn để đánh giá tác động toàn diện của BĐKH, xây dựng phương pháp đánh giá tính tổn thương thích hợp và đề xuất khung giải pháp thích ứng chuyên biệt cho các CSGG trong ngành Công an tại vùng trọng điểm thiên tai Bắc Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án áp dụng khung khái niệm về tính dễ bị tổn thương của IPCC (AR4, 2007), xác định tính DBTT ($V$) là hàm số của ba yếu tố: mức độ phơi lộ ($E$), độ nhạy cảm ($S$) và khả năng thích ứng ($AC$): $$V = f(E, S, AC)$$

Trong đó:

  • Mức độ phơi lộ ($E$): Bản chất và mức độ mà hệ thống CSGG phải tiếp xúc với các biến động và cực đoan khí hậu.
  • Độ nhạy cảm ($S$): Mức độ mà hệ thống cơ sở vật chất, con người và hoạt động giam giữ bị ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực bởi các tác nhân khí hậu.
  • Khả năng thích ứng ($AC$): Năng lực của hệ thống (thể chế, nguồn lực, hạ tầng) trong việc ứng phó, khắc phục và thích nghi nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

Về phương diện tích hợp chính sách, luận án vận dụng lý thuyết tích hợp chính sách của Beck và các cộng sự (2009), Mickwitz và các cộng sự (2009), Urwin và Jordan (2008), Trần Thục và các cộng sự (2011) về tích hợp theo chiều dọc (đưa BĐKH vào chính sách ngành, xuyên suốt từ cấp Bộ đến đơn vị cơ sở) và theo chiều ngang (kết hợp các mục tiêu môi trường - BĐKH vào các lĩnh vực kế hoạch, hậu cần, đầu tư công). Đồng thời, luận án áp dụng quy trình 4 bước lựa chọn ưu tiên thích ứng theo Quyết định số 1485/QĐ-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Về mặt khái niệm chuyên ngành, luận án sử dụng hệ thống định nghĩa pháp lý chuẩn hóa từ Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến phạm nhân, can phạm nhân, chế độ giam giữ, trại giam và trại tạm giam.

Khái niệm Chỉ số tổn thương tối giản (CSTTTG)

Nhận diện sự hạn chế của phương pháp chỉ số tổng hợp truyền thống (vốn phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan khi khảo sát điều tra xã hội học về độ nhạy cảm $S$ và khả năng thích ứng $AC$), tác giả đề xuất và phát triển khái niệm Chỉ số tổn thương tối giản (CSTTTG). Đây là chỉ số tổn thương thuần túy khí hậu, dựa trên giả thiết đặt độ nhạy cảm là toàn phần ($S = 1$) và khả năng ứng phó tức thời bằng không ($AC = 0$). Chỉ số này cho phép định lượng hóa mức độ rủi ro khí hậu khách quan tại tọa độ địa lý của từng CSGG, làm căn cứ so sánh đồng bộ trên toàn khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu: Thu thập văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo công tác quản lý giam giữ, số liệu lịch sử về thiệt hại thiên tai giai đoạn 2010–2014, tình hình phạm nhân phạm tội trốn trại giai đoạn 2005–2013.
  2. Phương pháp chuyên gia kết hợp điều tra xã hội học, khảo sát thực địa: Sử dụng phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu cán bộ lãnh đạo, quản giáo, nhân viên y tế tại 16 CSGG để ghi nhận thực trạng cơ sở hạ tầng, dịch bệnh, nguồn nước và an ninh.
  3. Phương pháp ma trận: Xây dựng ma trận định tính và định lượng nhằm chấm điểm, đánh giá mức độ tương tác giữa từng hiện tượng khí hậu cực đoan với từng mặt công tác của CSGG.
  4. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS): Số hóa tọa độ 16 CSGG, xây dựng các lớp bản đồ phân bố nhiệt độ, lượng mưa, phân vùng nguy cơ thiên tai và bản đồ phân hạng tổn thương tỷ lệ 1:1.000.000.
  5. Phương pháp thống kê khí hậu: Phân tích chuỗi số liệu thời gian thực tế tại các trạm khí tượng đại diện, xác định xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa ngày lớn nhất, số ngày nắng nóng, rét đậm, rét hại.
  6. Phương pháp chỉ số tổn thương tối giản: Tính toán giá trị CSTTTG cho từng loại hình cực đoan và tổng hợp cho từng cơ sở giam giữ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Số liệu khí tượng bề mặt hàng ngày thời kỳ 54 năm (1961–2014) tại hệ thống các trạm khí tượng thuộc mạng lưới của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia nằm trên địa bàn 6 tỉnh BTB.
  • Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (các kịch bản RCP 4.5 và RCP 8.5).
  • Báo cáo số liệu quản lý giam giữ, hồ sơ phạm nhân của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp, Công an 6 tỉnh BTB.
  • Dữ liệu khảo sát thực địa tại 10 trại giam và 6 trại tạm giam khu vực Bắc Trung Bộ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với các cơ sở giam giữ trong ngành Công an

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về BĐKH, các công ước quốc tế và đánh giá của IPCC qua các thời kỳ. Tác giả phân tích các tiếp cận đánh giá tính tổn thương gồm: tiếp cận từ trên xuống (top-down, tập trung vào mô hình hóa khí hậu dài hạn), tiếp cận từ dưới lên (bottom-up, chú trọng vào năng lực thích ứng của cộng đồng địa phương) và tiếp cận tổng hợp. Đồng thời, chương này phân tích lý thuyết tích hợp chính sách thích ứng theo chiều dọc và chiều ngang.

Chương này tập trung làm rõ đặc thù của hệ thống CSGG trong ngành Công an so với các lĩnh vực kinh tế - xã hội thông thường:

  • Tính khép kín, yêu cầu cách ly tuyệt đối phạm nhân với xã hội bên ngoài.
  • Quy mô giam giữ lớn và áp lực quá tải: Bộ Công an quản lý 49 trại giam toàn quốc với hơn 132.000 phạm nhân (quy mô trung bình 2.000 đến 5.000 phạm nhân/trại); 70 trại tạm giam với tổng sức chứa được phê duyệt 56.760 chỗ. Mật độ giam giữ thực tế chỉ đạt 1,5–1,6 m²/người (thấp hơn định mức tối thiểu 2 m²/người theo Luật Thi hành án hình sự).
  • Địa bàn đóng quân đặc thù: Các trại giam thường nằm tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh, địa hình chia cắt phức tạp, giao thông độc đạo dễ sạt lở (như TG Thanh Cẩm, TG Số 5, TG Số 3); trong khi các trại tạm giam nằm ven đô thị trung tâm các tỉnh.

Về điều kiện tự nhiên và khí hậu vùng BTB (kéo dài từ 16° đến 21°30'B), chương 1 tổng kết các đặc trưng khắc nghiệt: nhiệt độ trung bình năm dao động 21–25°C; mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng XI (phía Nam kéo dài đến tháng XII), lượng mưa năm phổ biến 1.600–2.800 mm (cá biệt trên 3.000–3.500 mm tại vùng đón gió Bạch Mã, nhưng lại dưới 800 mm/năm tại thung lũng Mường Xén); mùa nắng nóng gay gắt gắn liền với gió Tây khô nóng với số ngày nắng nóng từ 20 đến gần 80 ngày/năm (trạm Tương Dương từng ghi nhận 108 ngày nắng nóng trong năm 1998); chịu tác động của không khí lạnh gây rét đậm, rét hại ở phía Bắc; bão và áp thấp nhiệt đới dồn dập vào các tháng cuối năm gây lũ lụt, lũ quét nghiêm trọng.

Tiêu chí Trại giam (TG) Trại tạm giam (TTG)
Vị trí địa lý Vùng núi, vùng sâu, xa đô thị Ven đô thị trung tâm tỉnh / thành phố
Quy mô diện tích Lớn (hàng chục, hàng trăm đến hàng nghìn ha) Nhỏ (vài ha đến vài chục ha)
Mục đích sử dụng đất Phục vụ giam giữ kết hợp đất sản xuất nông - lâm nghiệp Chủ yếu phục vụ công trình giam giữ
Đối tượng giam giữ Phạm nhân đã có án phạt tù có thời hạn hoặc chung thân Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tạm giam, tử tù chờ thi hành án
Tính ổn định của đối tượng Ổn định cao Ổn định thấp (luân chuyển liên tục phục vụ điều tra)
Chế độ hoạt động Phạm nhân được ra khỏi buồng giam lao động sản xuất, học nghề Can phạm nhân tuyệt đối ở trong buồng giam (trừ phạm nhân phân trại)

Chương 2: Phương pháp và số liệu nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với các cơ sở giam giữ

Chương 2 trình bày chi tiết khung logic nghiên cứu kết hợp giữa tiếp cận từ trên xuống (chi tiết hóa các kịch bản khí hậu toàn cầu và cực trị khí hậu) và tiếp cận từ dưới lên (điều tra hiện trạng, phỏng vấn chuyên gia, thống kê thiệt hại nội ngành). Tác giả lựa chọn 06 hiện tượng khí hậu cực đoan điển hình của vùng BTB để đánh giá tác động gồm: rét đậm, rét hại, nắng nóng, hạn hán, mưa lớn và bão.

Nội dung trọng tâm của chương là quy trình xây dựng các công cụ định lượng:

  1. Phương pháp ma trận tác động: Thiết lập ma trận định tính để xác định các mối liên hệ tác động giữa 6 HTKHCĐ với 4 mặt công tác của CSGG (An ninh trật tự; Cơ sở hạ tầng và lao động sản xuất; Môi trường sống; Sức khỏe CBCS và CPN). Sau đó, lượng hóa ma trận bằng hệ thống thang điểm trọng số đánh giá mức độ ảnh hưởng (từ không ảnh hưởng, ảnh hưởng yếu, trung bình đến ảnh hưởng nghiêm trọng).
  2. Phương pháp Chỉ số tổn thương tối giản (CSTTTG): Chuẩn hóa công thức tính toán chỉ số tổn thương dựa trên xác suất xuất hiện, tần suất và cường độ cực trị của từng hiện tượng khí hậu tại vị trí 16 cơ sở giam giữ, phân cấp chỉ số thành các mức độ tổn thương: Thấp, Trung bình, Cao, Rất cao.
  3. Hệ số hóa và liên kết GIS: Phương pháp nội suy không gian và số hóa bản đồ khí hậu, bản đồ tổn thương trên phần mềm MapInfo/ArcGIS.

Chương 3: Đánh giá hiện trạng, tác động của biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng đối với các cơ sở giam giữ trong ngành Công an tại khu vực Bắc Trung Bộ

Chương 3 là chương thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày toàn diện các kết quả định lượng và đề xuất thực tiễn:

  1. Đánh giá chi tiết hóa điều kiện và xu thế biến đổi khí hậu: Phân tích chuỗi số liệu 1961–2014 cho thấy xu thế gia tăng rõ rệt của nhiệt độ trung bình năm, số ngày nắng nóng tăng nhanh (đặc biệt tại Nghệ An, Hà Tĩnh); lượng mưa ngày lớn nhất có xu hướng gia tăng cực đoan. Dự tính theo kịch bản RCP 4.5 và RCP 8.5 trong các giai đoạn 2046–2065 và 2080–2099, nhiệt độ trung bình năm tại tất cả 16 CSGG đều có xu hướng tăng từ 1,5°C đến trên 3,2°C; lượng mưa năm biến động mạnh, tăng cao vào các tháng mùa mưa và giảm sâu vào mùa khô, làm trầm trọng thêm nguy cơ hạn hán cục bộ và lũ quét.

  2. Đánh giá tác động của BĐKH đối với 4 mặt công tác của CSGG:

  • Công tác đảm bảo an ninh trật tự: Thiên tai cực đoan (mưa bão, lũ lớn) làm đổ tường rào bảo vệ, sập vọng gác, mất điện diện rộng làm vô hiệu hóa hệ thống camera giám sát, đèn chiếu sáng an ninh và rào điện tử. Đây là điều kiện các đối tượng CPN lợi dụng để gây bạo loạn, phá buồng giam và thực hiện hành vi trốn trại. Thống kê giai đoạn 2005–2013 cho thấy các vụ phạm nhân trốn trại thường tập trung tại hiện trường lao động ngoài trời hoặc lợi dụng đêm tối thời tiết mưa bão phức tạp.
  • Cơ sở hạ tầng và lao động sản xuất: Hệ thống công trình buồng giam bị ngập nước, tốc mái do bão lụt; sạt lở các tuyến đường liên trại và đường độc đạo kết nối với bên ngoài (nhất là tại TG Thanh Cẩm, TG Số 3). Hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) vốn là phương tiện cải tạo phạm nhân và tự túc lương thực của các trại giam bị thiệt hại nặng nề do hạn hán, ngập lụt, dịch bệnh gia súc gia cầm.
  • Môi trường sống: Thiếu nước sạch nghiêm trọng vào mùa khô do cạn kiệt giếng khoan và khe suối; mùa mưa bão gây ngập úng hệ thống thoát nước, làm tràn bể phốt, nước thải chưa qua xử lý phát tán gây ô nhiễm môi trường vi khí hậu trong khu giam giữ.
  • Sức khỏe của CBCS và CPN: Số liệu y tế nội bộ cho thấy các đợt nắng nóng cực đoan làm gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch, huyết áp, say nắng, bệnh da liễu và nhiễm trùng tiêu hóa; các đợt rét đậm, rét hại kéo dài làm bùng phát các bệnh đường hô hấp mãn tính, xương khớp, đặc biệt nghiêm trọng ở người cao tuổi và CPN có bệnh lý nền.
  1. Kết quả tính toán ma trận và phân hạng tổn thương: Thông qua ma trận định lượng và chỉ số CSTTTG, luận án phân loại mức độ tổn thương của 16 cơ sở giam giữ trước 6 loại thiên tai:
  • Các trại giam chịu tổn thương cao nhất do nắng nóng và hạn hán: TG Số 3, TG Số 6 (Nghệ An), TG Xuân Hà (Hà Tĩnh).
  • Các trại chịu tổn thương cao nhất do bão và mưa lớn: TG Đồng Sơn (Quảng Bình), TG Bình Điền (Thừa Thiên – Huế), TG Nghĩa An (Quảng Trị).
  • Các trại giam miền núi phía Bắc vùng nghiên cứu (TG Thanh Cẩm, TG Thanh Lâm) chịu rủi ro cao nhất về rét đậm, rét hại kết hợp sạt lở đất.
  • Các trại tạm giam (B1 đến B6) chịu tổn thương thấp hơn về hạ tầng sản xuất nhưng chịu tổn thương cao về ô nhiễm môi trường cục bộ và dịch bệnh do mật độ giam giữ tập trung dày đặc trong đô thị khi ngập úng xảy ra.
  1. Khung và giải pháp thích ứng đề xuất:
  • Đánh giá hiện trạng quản lý: Cơ cấu tổ chức chỉ đạo ứng phó thiên tai của ngành Công an đã hình thành từ Ban Chỉ đạo Ứng phó với BĐKH, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn (ƯPT) Bộ Công an xuống Ban Chỉ huy ƯPT Tổng cục THAHS và Ban Chỉ huy ƯPT Công an tỉnh, tuy nhiên hoạt động mang tính bị động, chủ yếu tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, thiếu kế hoạch thích ứng trung và dài hạn.
  • Đề xuất khung thích ứng: Xây dựng khung thích ứng mang tính chất lồng ghép trực tiếp vào quy hoạch phát triển của ngành Công an.
  • Nhóm giải pháp chiến lược: Hoàn thiện văn bản pháp lý, tiêu chuẩn thiết kế xây dựng buồng giam và hàng rào an ninh thích ứng với bão lũ; nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm thiên tai nội bộ; đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ an ninh và y tế cứu nạn cho CBCS trong điều kiện thời tiết cực đoan.
  • Nhóm giải pháp cụ thể: Xây dựng công trình hồ chứa nước ngọt dự phòng, hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt khép kín, kiên cố hóa hệ thống tường rào bảo vệ kết hợp trạm điện dự phòng độc lập, chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi phù hợp với thời tiết khô hạn hoặc ngập lụt tại các phân trại sản xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án phát triển chỉ số tổn thương từ cấu trúc ba biến số truyền thống (phơi lộ, nhạy cảm, khả năng thích ứng) thành Chỉ số tổn thương tối giản (CSTTTG). Đây là chỉ số tổn thương thuần túy khí hậu dựa trên giả thiết độ nhạy cảm toàn phần ($S=1$) và năng lực thích ứng bằng 0 ($AC=0$), cho phép lượng hóa và so sánh khách quan mức độ đe dọa của các hiểm họa khí hậu cực đoan giữa các vị trí địa lý của cơ sở giam giữ mà không bị sai lệch bởi tính chủ quan trong điều tra xã hội học.
  2. Thiết lập cơ sở lý luận và phương pháp luận chuyên biệt về đánh giá tác động của BĐKH đối với hệ thống các cơ sở giam giữ an ninh tư pháp – một đối tượng nghiên cứu hoàn toàn mới trong lĩnh vực Khoa học môi trường tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và có hệ số đo lường định lượng về tác động của BĐKH và các hiện tượng cực đoan đối với toàn bộ 16 CSGG (10 trại giam và 6 trại tạm giam) thuộc ngành Công an trên địa bàn 6 tỉnh Bắc Trung Bộ.
  2. Xây dựng bộ bản đồ GIS số hóa tích hợp điều kiện khí hậu, kịch bản biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 và phân hạng mức độ tổn thương thực tế cho từng cơ sở giam giữ tại khu vực nghiên cứu.
  3. Đề xuất mô hình khung giải pháp thích ứng với BĐKH đặc thù, tích hợp trực tiếp vào chiến lược phát triển hạ tầng, công tác quy hoạch mạng lưới giam giữ, và kế hoạch đảm bảo an ninh, hậu cần của lực lượng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Chuỗi số liệu khí tượng quan trắc sử dụng kết thúc ở năm 2014, chưa cập nhật được các chuỗi số liệu khí hậu cực đoan mới hơn sau giai đoạn này.
  • Phương pháp Chỉ số tổn thương tối giản loại bỏ giả thiết về độ nhạy cảm xã hội và năng lực ứng phó tức thời để tập trung vào yếu tố khí hậu thuần túy, do đó chưa lượng hóa chi tiết mức độ biến thiên năng lực tài chính và hậu cần nội bộ của từng trại giam.
  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ giới hạn tại 16 CSGG thuộc 6 tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ, chưa bao quát hệ thống nhà tạm giữ thuộc Công an cấp huyện do hạn chế về nguồn lực và thời gian nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi áp dụng phương pháp luận và mô hình đánh giá tổn thương cho toàn bộ hệ thống các cơ sở giam giữ thuộc ngành Công an trên phạm vi toàn quốc (vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ).
  • Nghiên cứu chi tiết hóa các giải pháp kỹ thuật công trình (vật liệu xây dựng buồng giam chống sốc nhiệt, kết cấu hàng rào thông minh chịu bão lũ) và các giải pháp y tế cộng đồng đặc thù cho can phạm nhân trong bối cảnh BĐKH.
  • Ứng dụng khung phương pháp này để đánh giá rủi ro thiên tai và BĐKH cho các mục tiêu an ninh, doanh trại, kho tàng vũ khí và các công trình nghiệp vụ tương tự của lực lượng vũ trang nhân dân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các lĩnh vực:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách ngành Công an: Cung cấp luận cứ khoa học để lãnh đạo Bộ Công an, Cục Cảnh sát Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng và Công an các địa phương đưa nội dung ứng phó BĐKH vào quy hoạch tổng thể mạng lưới giam giữ; thiết kế tiêu chuẩn kỹ thuật buồng giam, trạm y tế, công trình cấp nước và phân bổ ngân sách dự phòng thiên tai.
  • Cán bộ lãnh đạo và chiến sĩ tại các cơ sở giam giữ: Cung cấp thông tin rủi ro khí hậu cực đoan cụ thể tại địa bàn đóng quân (bảng phân hạng tổn thương, bản đồ GIS) để xây dựng phương án tác chiến phòng chống thiên tai, bảo đảm an ninh trật tự, ngăn chặn phạm nhân lợi dụng thiên tai trốn trại hoặc bạo loạn.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên, học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Khí tượng - Thủy văn và Quản lý trật tự an toàn xã hội: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp ma trận định tính - định lượng và phương pháp chỉ số tổn thương tối giản trong việc đánh giá rủi ro khí hậu cho các hệ thống đối tượng có tính chất an ninh đặc thù.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chính xác bao nhiêu cơ sở giam giữ và tại những địa phương nào?
Luận án khảo sát toàn bộ 16 cơ sở giam giữ trên địa bàn 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, gồm 10 trại giam (TG) và 6 trại tạm giam (TTG):

  • Thanh Hóa: TG Thanh Phong, TG Thanh Lâm, TG Số 5, TG Thanh Cẩm, TTG Công an tỉnh Thanh Hóa.
  • Nghệ An: TG Số 3, TG Số 6, TTG Công an tỉnh Nghệ An.
  • Hà Tĩnh: TG Xuân Hà, TTG Công an tỉnh Hà Tĩnh.
  • Quảng Bình: TG Đồng Sơn, TTG Công an tỉnh Quảng Bình.
  • Quảng Trị: TG Nghĩa An, TTG Công an tỉnh Quảng Trị.
  • Thừa Thiên – Huế: TG Bình Điền, TTG Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa trại giam (TG) và trại tạm giam (TTG) ảnh hưởng như thế nào đến tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu?
Trại giam có diện tích tự nhiên rất lớn (hàng trăm đến hàng nghìn hecta), nằm ở vùng núi sâu xa đô thị, quản lý lượng lớn phạm nhân (2.000–5.000 người) có hoạt động lao động sản xuất ngoài trời; do đó trại giam chịu tổn thương nặng nề về sạt lở, chia cắt giao thông, hư hại hạ tầng sản xuất nông - lâm nghiệp. Ngược lại, trại tạm giam có diện tích nhỏ (vài đến vài chục hecta), nằm ven đô thị, giam giữ CPN (60–1.000 người) khép kín 24/24 trong buồng giam; do đó trại tạm giam chịu tổn thương cao về ô nhiễm môi trường vi khí hậu, úng ngập rác thải, áp lực cấp nước sinh hoạt và nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm trong không gian hẹp.

3. Khái niệm "Chỉ số tổn thương tối giản" được luận án định nghĩa và xây dựng như thế nào?
Chỉ số tổn thương tối giản (CSTTTG) là chỉ số tổn thương thuần túy khí hậu, được phát triển từ hàm số tổn thương $V = f(E, S, AC)$ của IPCC nhưng đặt trong giả thiết độ nhạy cảm đạt mức toàn phần ($S = 1$) và năng lực ứng phó tức thời bằng không ($AC = 0$). Chỉ số này phản ánh mức độ hiểm họa tự nhiên khách quan thông qua các tham số về tần suất, cường độ và chu kỳ lặp của 6 hiện tượng khí hậu cực đoan tại tọa độ của từng cơ sở, giúp loại trừ các sai lệch mang tính chủ quan từ các cuộc điều tra xã hội học.

4. Hiện tượng thời tiết cực đoan tác động đến công tác đảm bảo an ninh trật tự trong cơ sở giam giữ ra sao theo các dữ liệu thực tế?
Khi mưa bão lớn hoặc ngập lụt xảy ra, cơ sở hạ tầng an ninh bị hư hại nghiêm trọng (đổ tường rào bao quanh, sập chòi gác, mất điện làm tê liệt camera theo dõi, hệ thống báo động và chiếu sáng bảo vệ). Điều này tạo kẽ hở an ninh để các can phạm nhân kích động gây mất trật tự buồng giam hoặc lợi dụng địa hình chia cắt, đêm tối mưa gió để trốn khỏi nơi giam giữ. Dữ liệu thống kê giai đoạn 2005–2013 của ngành cho thấy các trường hợp trốn trại thường diễn biến phức tạp tại hiện trường lao động ngoài trời hoặc trong thời điểm thiên tai chia cắt.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp thích ứng trọng tâm nào cho các cơ sở giam giữ khu vực Bắc Trung Bộ?
Luận án đề xuất khung thích ứng gồm hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp chiến lược: Tích hợp BĐKH vào quy hoạch phát triển mạng lưới CSGG ngành Công an; hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình giam giữ an toàn trước bão lũ; nâng cấp năng lực cảnh báo sớm và phương án huấn luyện nghiệp vụ an ninh tư pháp ứng phó thiên tai cho lực lượng Cảnh sát THAHS.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể: Xây dựng các công trình hồ, bể tích trữ nước ngọt ngầm dự phòng mùa khô hạn; xây trạm xử lý nước thải sinh hoạt khép kín tránh tràn ngập lụt; trang bị nguồn máy phát điện độc lập bảo vệ hệ thống giám sát an ninh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chịu hạn và dịch bệnh trong các phân trại lao động sản xuất.

Kết luận

Luận án của tác giả Cao Thị Thương Huyền là công trình học thuật đầu tiên tiếp cận toàn diện và có hệ thống tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống cơ sở giam giữ trong ngành Công an tại vùng trọng điểm thiên tai Bắc Trung Bộ. Bằng việc xây dựng và ứng dụng phương pháp Chỉ số tổn thương tối giản kết hợp công nghệ GIS và ma trận tác động, tác giả đã định lượng hóa mức độ rủi ro khí hậu cho 16 cơ sở giam giữ đại diện. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cơ sở lý luận mới trong phân tích tính dễ bị tổn thương thuần túy khí hậu mà còn cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc, phục vụ công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý an ninh tư pháp của ngành Công an trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.