Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí địa lý Vùng nghiên cứu bao gồm các xã, thị trấn thuộc hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Nghĩa Hưng (Nam Định). Phía đông vùng nghiên cứu giáp huyện Hải Hậu (Nam Định); phía tây nam giáp huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); phía bắc và tây bắc giáp huyện Yên Khánh, Yên Mô và Nam Trực; phía nam giáp biển Đông (Hình 1.
Vị trí vùng nghiên cứu Nguồn: Google Earth 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Cửa Đáy 1. Điều kiện tự nhiên 1. Đặc điểm địa hình, địa mạo Địa hình vùng nghiên cứu tương đối bằng phẳng, hướng nghiêng về phía biển, độ dốc nhỏ (dao động từ 0,04 đến 0,05m/km) [34].
Độ cao trung bình vùng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ven biển dao động từ 0 - 2m. Địa hình vùng nghiên cứu chịu tác động rất lớn bởi hoạt động quai đê lấn biển. Hệ thống đê và các trục giao thông đã chia cắt vùng nghiên cứu ra những ô đất thấp khác nhau. Ngoài đê là chịu ảnh hưởng của sóng biển, thủy triều và dòng biển, cho nên chủ yếu là các bãi triều, có địa hình khá thoải, rộng khoảng 2 - 3km.
Vùng nghiên cứu còn có các địa hình âm là các lạch triều tự nhiên. Hiện nay, dạng địa hình này chỉ còn tồn tại ở Nghĩa Hưng. Các lạch triều có vai trò lớn trong việc phân bố lại các vật chất bở rời do sông ngòi đưa ra và qua chu trình tiến vào và rút ra của thủy triều. Khu vực Kim Sơn gần như không còn lạch triều tự nhiên, thay vào đó là hệ thống kênh rạch thủy nông phục vụ nuôi thủy sản rất phát triển.
Đường bờ vùng nghiên cứu có hướng đông bắc - tây nam và bị chia cắt mạnh bởi các cửa lạch và cửa sông Đáy, chiều dài bờ biển khoảng 30km. Đoạn bờ biển Nghĩa Hưng, vùng tiếp giáp với cửa sông Ninh Cơ, có các bãi cát, các cồn cát. Phía trong hệ thống Hình 1. Cồn cát hình thành trước cửa doi cát này hệ sinh thái rừng ngập mặn sông Đáy khá phát triển, có nơi rộng đến gần 3km và kéo dài đến 6km.
Địa hình đáy biển có xu hướng thoải dần theo hướng đông bắc - tây nam. Vị trí đường đẳng sâu 5m nằm cách bờ từ 1,5 - 2km. Trước cửa Đáy, đường đẳng sâu có mật độ cao nhất ở khoảng độ sâu 2 - 6m nước. Vật liệu trầm tích đưa ra từ cửa Đáy tập trung lắng đọng ở ngay sát cửa sông, tạo thành các cồn cát, bar cát (dài khoảng 2km, rộng 1km (Hình 1.2) làm thay đổi lòng dẫn cửa sông.
Khu vực bờ biển Kim Sơn, từ độ sâu 0 - 2m nước, địa hình gần như bằng phẳng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm các thành tạo địa chất Các thành tạo địa chất trên đất liền: gồm các thành tạo trầm tích bở rời chịu tải kém, chống xói lở kém và tàng trữ độc tố tốt gồm sét, bột sét màu xám giàu mùn thực vật, thuộc tướng đầm lầy đặc trưng ở đoạn cửa Đáy. Ngoài ra, nơi đây còn có thành tạo trầm tích bở rời, chịu tải kém và tàng trữ độc tố kém, thành phần trầm tích gồm cát nhưng không đặc trưng.
Các thành tạo địa chất dưới đáy biển: nhóm có khả năng tàng trữ độc tố tốt gồm trường bùn chứa cát sạn tạo thành dải hẹp ở phía ngoài, ôm lấy trường bùn, có xu hướng bị thu hẹp là do các trường bùn phía trong bờ ngày càng mở rộng ra phía biển. Nhóm có khả năng tàng trữ độc tố trung bình gồm trường bùn chứa cát sạn và cát chứa sạn bùn, phát triển từ độ sâu 30m nước trở ra. Đặc điểm khí hậu Khí hậu vùng nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với hai hệ thống gió mùa đông bắc và tây nam. Hàng năm, vùng nghiên cứu thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết như bão và áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh, ngập lụt cục bộ do mưa to trong bão và áp thấp nhiệt đới gây tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Chế độ nhiệt 35 35 30 30 25 25 20 20 15 15 10 10 5 5 0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Bình 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Bình quân quân 2000 2005 2006 2007 2008 2009 năm 2000 2005 2006 2007 2008 2009 năm Hình 1. Nhiệt độ không khí trung bình Hình 1. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (oC) (oC) Nguồn: số liệu trong niên giám thống kê Nam Định, Ninh Bình, năm 2009 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ nhiệt vùng nghiên cứu tương đồng với các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 24,5oC.
Tuy nhiên, số giờ nắng trung bình trong năm ở vùng nghiên cứu lại thấp hơn so với các tỉnh thành trong cả nước. Trong giai đoạn 2007 - 2011, số giờ nắng trung bình đạt khoảng 1160 - 1460 giờ/năm. Chế độ nhiệt giữa các mùa trong năm có sự khác biệt rõ rệt. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình tháng từ 26 - 30oC, các tháng 6 và 7 thường có nhiệt độ cao nhất, xấp xỉ 30oC (Hình 1.
Tổng số giờ nắng trong mùa hè chiếm gần 70% tổng số giờ nắng trong năm. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nền nhiệt độ giảm, nhiệt độ trung bình tháng thường dưới 25oC, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình từ 15 - 18oC (Hình 1. Số giờ nắng trong giai đoạn này chỉ bằng 50% so với mùa hè. Lượng mưa trung bình các Hình 1.
Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (mm) (mm) Nguồn: số liệu trong niên giám thống kê Nam Định, Ninh Bình, năm 2009 Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800mm, nhưng sự phân bố lượng mưa trong năm thể hiện sự khác biệt giữa các mùa. Mùa hè, lượng mưa chiếm trên 70% lượng mưa cả năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (Hình 1. Vì vậy, độ ẩm thường xuyên đạt trên 80%. Vào mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, khí hậu khô nên lượng mưa không lớn, chỉ chiếm khoảng 30%.
Đặc biệt, hai tháng 12 và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, chỉ từ 2 - 61mm nên độ ẩm vào các tháng này đều dưới 75%. Thời gian đầu tháng 2 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến giữa tháng 3 có nhiều ngày mưa phùn mưa bụi cuối đông làm cho độ ẩm không khí lại tăng đến 85%. Chế độ gió Vùng nghiên cứu có chế độ gió theo mùa. Trong năm, nơi đây có hai mùa gió khác nhau về bản chất và có hướng thịnh hành trái chiều nhau là gió mùa đông bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và gió mùa tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10).
Vào mùa đông, gió có hướng thịnh hành là đông bắc, đông, bắc, vào cuối mùa có gió đông và đông nam. Mùa hè, gió có hướng thịnh hành là nam, đông nam và tây nam. Tốc độ gió trung bình năm trên 3m/s [11]. Tốc độ gió qua các mùa không giống nhau.
Vào mùa gió đông bắc, tốc độ gió từ 3 - 5m/s chiếm đại đa số với tần số xuất hiện 70 - 80%, tốc độ gió trên 7m/s khá phổ biến, chiếm khoảng 20%. Mùa gió tây nam, tốc độ gió trung bình 4 - 5m/s, đặc biệt khi xuất hiện các nhiễu động thời tiết như dông, áp thấp nhiệt đới, bão tốc độ gió có thể đạt tới 25 - 30m/s [57]. Đặc điểm thủy văn - hải văn a. Thủy văn Chế độ thủy văn vùng nghiên cứu chịu sự chi phối của sông Đáy.
Sông Đáy là một phân lưu của Sông Hồng, nhận nước từ sông Hồng (ở địa phận Hà Nội) đổ ra vịnh Bắc Bộ (cửa Đáy). Chế độ dòng chảy của sông Đáy khá phức tạp do thượng lưu bị chia cắt bởi sông Hồng, hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều. Dòng chảy trên sông Đáy hàng năm dao động theo mùa, phù hợp với mùa mưa và mùa khô và có lưu lượng phân bố không đều. Mùa lũ bắt đầu vào tháng 5 nhưng đôi khi có thể bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hoặc tháng 10.
Trong khoảng 4 tháng (từ tháng 6 đến tháng 9) lượng nước chiếm khoảng 75 - 85% lượng nước cả năm. Trong giai đoạn này, dòng chảy sông lấn át dòng triều nên chỉ có một hướng chảy từ sông ra biển. Mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Giai đoạn ổn định của mùa kiệt kéo dài 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3).
Vào khoảng thời gian này, lưu lượng dòng chảy khá nhỏ, chỉ bằng 7 - 8% lưu lượng dòng chảy 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đây là thời kỳ mặn có điều kiện xâm nhập sâu vào lục địa [57]. Nhìn chung, nguồn nước tự nhiên của sông Đáy kết hợp với điều hòa của hệ thống công trình thủy lợi đã phục vụ đắc lực cho việc cấp nước sinh hoạt và phát triển các ngành kinh tế khác như: giao thông thủy, thủy sản, du lịch và đặc biệt là phát triển nông nghiệp. Hải văn Nhiệt độ nước biển Nhiệt độ nước biển có sự chênh lệch giữa các mùa.
Vào mùa hè, nhiệt độ nước biển tầng mặt ở vùng biển nghiên cứu thường cao hơn so với các vùng biển phía nam Việt Nam. Nhiệt độ trung bình tầng mặt khoảng 27 - 30oC và giảm theo quy luật từ bờ ra khơi. Trái lại, vào mùa đông, gió mùa đông bắc mang tới không khí lạnh nên nhiệt độ nước biển bị hạ xuống. Do đó nhiệt độ nước biển vào khoảng thời gian này thường thấp hơn so với vùng biển phía nam Việt Nam.
Nhiệt độ trung bình từ tầng mặt vào khoảng 21 - 22oC và giảm từ ngoài khơi vào bờ. Ngoài ra, nhiệt độ nước biển cũng có sự chênh lệch giữa các tầng và giữa ngày và đêm. Nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy chênh nhau khoảng 1oC. Nhiệt độ nước biển vào ban đêm thường thấp hơn nhiệt độ vào ban ngày từ 1 - 2oC [22].
Độ muối Độ mặn nước biển vùng nghiên 30 cứu khá tương đồng với các vùng biển 25 Bắc Bộ, nhưng thấp hơn so với vùng 20 biển phía nam Việt Nam. Tại trạm Văn 15 Lý, độ muối trung bình năm vào 10 khoảng 24,4‰.