MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây biến đổi khí hậu là cụm từ được nhắc đến thường xuyên trên các báo cáo khoa học, trên tivi, báo đài. Điều này cho thấy biến đổi khí hậu đã là vấn đề hiện hữu khiến tất cả mọi người đều có thể nhận ra và lấy làm nguyên nhân để giải thích cho các hiện tượng thời tiết cực đoan hiện nay. Trong các biểu hiện của biến đổi khí hậu nước biển dâng và xâm nhập mặn đang là thách thức lớn nhất với Việt Nam.
Do vậy, việc tìm ra các giải pháp thích ứng hiệu quả nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực, đồng thời tận dụng các cơ hội do biến đổi khí hậu mang lại là vấn đề cấp bách được sự quan tâm của nhà nước và tất cả nhân dân. Là một quốc gia có đường bờ biển dài trên ba nghìn km Việt Nam được dự báo là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của nước biển dâng và xâm nhập mặn. Trong đó nông nghiệp là lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất. Theo một nghiên cứu của WB nếu nước biển dâng 1m sẽ có 7,2% diện tích đất nông nghiệp biến mất và một diện tích lớn bị nhiễm phèn, nhiễm mặn khiến cho ngành nông nghiệp vốn còn nhiều khó khăn, yếu kém của Việt Nam đứng trước áp lực to lớn để tiếp tục phát triển.
Cùng với tư duy mới thích nghi với biến đổi khí hậu ngành nông nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp cho vấn đề xâm nhập mặn trong đó công tác giống được coi là khâu đột phá để giải quyết vấn đề (Kế hoạch phát triển nông nghiệp 2016 – 2020 – Bộ Nông Nghiệp 2015). Được nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào nuôi thử nghiệm từ năm 2015 vịt Biển đang cho thấy là một giống vật nuôi nhiều tiềm năng thích ứng với điều kiệm nhiễm phèn, nhiễm mặn giúp phát triển kinh tế nâng cao đời sống của người dân khu vực ven biển, hải đảo. Tuy nhiên hiện nay chăn nuôi vịt biển chủ yếu đang được thực hiện dưới dạng dự án khuyến nông quốc gia từ năm 2017. Sau thời gian thực hiện dự án tại nhiều tỉnh ven biển Việt Nam chăn nuôi vịt biển đã cho thấy nhiều lợi ích và sự phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Bên cạnh những thành công đã đạt được trong quá trình thực hiện dự án cũng xuất hiện nhiều khó khăn để phát 2 triển đại trà chăn nuôi vịt biển trong đó quan trọng nhất là nghiên cứu những điều kiện để phát triển chăn nuôi vịt biển. Tổng quan nghiên cứu - Các nghiên cứu trên thế giới: Trên thế giới đã có nhiều tài liệu, báo cáo, nghiên cứu về loài vịt biển hoang giã như: Research on Sea Ducks in the Baltic Sea - Gotland University. Theo nhóm tác giả hiện nay tại khu vực biển Baltic có năm loại vịt biển đang sinh sống chúng có thể lặn sâu tới 20 mét để tìm kiếm thức ăn. Thức ăn chủ yếu của chúng là các loài nhuyễn thể hai mảnh như sò và các sinh vật phù du trong nước biển.
Đến mùa sinh sản những con vịt biển rời khỏi biển Baltic và di chuyển quãng đường hơn 3500 km từ biển Baltic đến vùng bắc cực của nước Nga. Chúng sinh sản tại các hồ nước ngọt vào mùa xuân khi băng tan, sau đó quay lại vùng nước mặn và bắt đầu thay lông. Trong giai đoạn từ năm 1992 đến 2009 số lượng vịt biển tại biển Baltic đã giảm hơn 60% do sự thay đổi của môi trường, tác động của con người như đánh bắt, tràn dầu. Skov et al.
Inventory of Coastal and Marine Important Bird Areas in the Baltic Sea - Birdlife International, Cambridge. Skov et al. Waterbird Populations and Pressures in the Baltic Sea. TemaNord 2011: 550 - Nordic Council of Ministers, Copenhagen.
Các tài liệu, báo cáo khoa học của hội bảo tồn vịt biển bắc Mỹ SDJV – Sea Duck Joint Venture. - Các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam gần đây cũng có nhiều nghiên cứu về biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn nói chung và phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn nói riêng như: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển. Quyền Đình Hà Học viện Nông nghiệp, theo nghiên cứu các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế trên thế giới 3 đều nằm ở ven biển vấn đề phát triển kinh tế vùng ven biển vốn đã phải đối mặt với nhiều vấn đề, hiện nay lại thêm một vấn đề cấp bách là biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong đó sản xuất nông nghiệp, người nông dân là những người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên và bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu, do vậy thích ứng là chìa khóa của tương lai.
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm giảm tổn thương do biến đổi khí hậu đồng thời tận dụng các cơ hội nó mang lại. Nội dung của sự thích ứng phải đi từ nhận thức đến hành động. Nhận thức được các biểu hiện của biến đổi khí hậu, các tác động đến sản xuất nông nghiệp từ đó có các hành động thích hợp như dự báo, lập kế hoạch.Kinh nghiệm thích ứng với biến đổi khí hậu của một số nước như Trung Quốc đã tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, cải thiện hệ thống tưới tiêu, cấp thoát nước. Thay đổi cơ cấu cây trồng, hệ thống canh tác.
Chọn lọc, phát triển các giống cây trồng vật nuôi mới chịu hạn, chịu mặn. Thái Lan dự định xây tường chắn dài 80 km cao hơn mực nước biển 3 m cùng với trồng rừng ngập mặn như một rào chắn thiên nhiên để thích ứng với nước biển dâng. Nghiên cứu các giống cây trồng, vật nuôi chịu măn cững là giải pháp thích ứng của Thái Lan. Ấn Độ tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng thông qua cải thiện nguồn sinh kế bằng các chương trình cho vay vốn, bảo hiểm thiên tai.
“Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển. Trần Thọ Đạt tại diễn đàn phát triển Việt Nam 2012. Trần Thọ Đạt biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và mực nước biển dâng là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Xu hướng biến đổi khí hậu trong tương lai được dự đoán theo bốn kịch bản, dự kiến nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng 0,2 – 0,3 độ C mỗi thập kỷ, cùng với sự gia tăng nhiệt độ kịch bản nước biển dâng được dự báo từ 26 – 59 cm với kịch bản phát thải cao và 18 – 38 cm với kịch bản phát thải thấp (theo IPCC 2007).
Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu là các đảo nhỏ, châu thổ sông lớn và các vùng ven biển. Do phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên thiên nhiên nên nông nghiệp là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu. Để ứng phó với biến đổi khí hậu thế giới đang thực 4 hiện cùng một lúc 2 chiến lược giảm thiểu biến dổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Giảm thiểu biến đổi khí hậu là giảm cường độ phát thải khí nhà kính có thể đạt được thông qua tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng và phát triển công nghệ mới.
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm tổn thương và tận dụng các cơ hội biến đổi khí hậu mang lại. Các hoạt đông thích ứng được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động quản lý rủi ro và các mạng lưới an sinh tốt hơn. Ở Việt Nam phát triển bền vững sinh sinh kế vùng ven biển phải đảm bảo trên ba khía cạnh: bền vững về mặt kinh tế - xã hội – môi trường. Sinh kế bền vững dựa trên nền tảng của phát triển bền vững với ý tưởng chung của các khung sinh kế bền vững là: các hộ gia đình dựa vào các nguồn lực hiện có trong bối cảnh thể chế, chính sách của địa phương thực hiện các chiến lược sinh kế như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch… nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập dưới sự tác động của các cú sốc từ bên ngoài… Các nghiên cứu về chọn lọc và nâng cao chất lượng các giống vịt: “Chọn lọc và nâng cao năng suất vịt MT1 và MT2, tạo vịt MT12 làm mái nền lai với ngan RT11” - TS.
Nguyễn Văn Duy (2012) khi tiến hành chọn lọc trên vịt MT1 qua 5 thế hệ thì hiệu quả chọn lọc giảm từ 77,84 ở thế hệ 1 xuống thế hệ thứ 2 là 61,6 g/con và tiếp tục giảm xuống ở thế hệ thứ 3 là 37,3 g/con; đến thế hệ thứ 4 là 37,4 g/con. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng ở 7 tuần tuổi của vịt MT1 giảm dần qua 5 thế hệ chọn lọc lần lượt là 2,67; 2,57; 2,50; 2,44; 2,41kg… “Chọn lọc tăng khối lượng vịt V22 qua 4 thế hệ” - Dương Xuân Tuyển và cộng sự (2014) khi tiến hành chọn lọc vịt V22 qua 4 thế hệ cho thấy khối lượng cơ thể được tăng lên và tiêu tốn thức ăn cũng giảm từ thế hệ 1 (2,61 kg), thế hệ 2 (2,57 kg), thế hệ 3 (2,53 kg) và thế hệ 4 (2,52 kg). Cũng theo tác giả (2011) khi nghiên cứu chọn lọc trên vịt V12 thì tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng sau khi chọn lọc là 2,57kg. Năng suất trứng dòng vịt mái V27 qua 4 thế hệ chọn lọc có tỷ lệ chọn lọc 29,50% - 40,50% , có cường độ chọn lọc từ 0,95 – 1,16 và ly sai chọn lọc từ 12,87 – 20,5 quả thì tiến bộ di truyền đạt được là 1,21 quả/thế hệ và hệ số di truyền tính 5 trạng năng suất trứng là 0,28.
Báo cáo kết quả mô hình chăn nuôi vịt biển sử dụng đệm lót sinh học tại xã Tân Thắng – Hàm Tân – Bình Thuận – Sở NN&PTNN Bình Thuận. Báo cáo kết quả mô hình chăn nuôi vịt biển sinh sản và thương phẩm năm 2015 – 2017 – Sở NN&PTNT Quảng Nam. - Đánh giá tổng quan nghiên cứu: Các nghiên cứu trên thế giới về vịt biển đang nhìn nhận dưới góc độ đây là một loài động vật hoang dã cần được bảo tồn. Vì vậy các nghiên cứu đều đi theo hướng nghiên cứu đặc điểm, tập tính của loài vịt biển, các phân họ vịt biển, quá trình di cư, tập tính sinh sản của chúng.