CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH 1.1 GIỚI THIỆU Chương này trình bày nhiều thuật ngữ, khái niệm, mô hình được sử dụng ở các chương sau. Trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng và sự hài lòng của du khách trong lĩnh vực du lịch, những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan làm nền tảng cơ sở lý luận cho nghiên cứu này.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Khái niệm về du lịch Du lịch được hiểu là bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc; và các hoạt động trong thời gian họ lưu trú tại các điểm đến (The toursm Society, 1979) Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10, thuật ngữ du lịch được hiểu như sau: "Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định".2 Khái niệm về khách du lịch Theo Luật du lịch (ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005): “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. (điều 4, luật du lịch, 2005) Phân loại khách du lịch theo quốc tịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
(điều 34, luật du lịch, 2005) Luan van 7 - Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.3 Một số thuật ngữ chuyên ngành du lịch Căn cứ vào điều 4 của Luật du lịch năm 2006 thì: Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường. Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách DL.4 Điểm đến du lịch và marketing trong du lịch a.
Định nghĩa Theo nghĩa chung nhất thì điểm đến du lịch là những nơi khách du lịch hướng đến thực hiện các hoạt động vui chơi giải trí và lưu trú qua đêm. Điểm đến du lịch là nơi tập trung nhiều điểm du lịch và hệ thống lưu trú, vận chuyển và các dịch vụ du lịch khác, là nơi có xảy ra các hoạt động kinh tế - xã hội do du lịch gây ra. Điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. Tùy theo phạm vi, điểm đến du lịch được xem xét đến các yếu tố hình thành cũng khác nhau.
Nếu xét tầm quốc tế thì điểm đến du lịch là một quốc gia, nếu xét tầm quốc gia thì điểm đến du lịch là địa phương (tỉnh, thành phố). Vì vậy, điểm đến du lịch là quốc gia, vùng, thành phố lớn. Sản phẩm của điểm đến du lịch Sản phẩm của điểm đến du lịch bao gồm: các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo, các điểm tham quan giải trí, dịch vụ lưu trú, các dịch vụ ăn uống- mua sắm, dịch vụ vận chuyển. Các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo: là các thắng cảnh thiên nhiên như rừng núi, sông suối, biển, các di tích lịch sử như đền đài, cung điện,… Các tài nguyên được xem là sản phẩm của điểm đến du lịch trong một điều kiện cụ thể.
Các điểm tham quan, giải trí: Các thắng cảnh thiên nhiên, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách. Dịch vụ lưu trú: các cơ sở phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách. Đó có thể là khách sạn, khu nghỉ dưỡng, motel, làng du lịch,… Các dịch vụ ăn uống – mua sắm: các trung tâm thương mại, chợ, các nhà hang hay những dịch vụ khác cho nhu cầu ăn uống và mua sắm của du khách. Dịch vụ vận chuyển: Các phương tiện phục vụ cho nhu cầu đi lại của du khách.
Đó là phương tiện giao thông đường hàng không, đường bộ, đường thủy, đường sắt của điểm đến. Như vậy: Mỗi điểm đến có những tài nguyên du lịch khác nhau, phù hợp với việc phát triển những loại hình du lịch khác nhau. Mỗi điểm đến có khả năng mang đến cho du khách sự hài lòng khác nhau vì sản phẩm của điểm đến du lịch là khác nhau. Marketing trong du lịch Khái niệm Marketing du lịch Marketing du lịch: Là tiến trình nghiên cứu, phân tích nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, dịch vụ du lịch và phương thức cung ứng hỗ trợ để Luan van 9 đưa khách hàng đến với sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ, đồng thời đạt được mục tiêu của tổ chức.
Có thể hiểu marketing trong du lịch là một quá trình gồm nhiều bước. Quá trình này bắt đầu với việc phân tích điểm đến du lịch để xây dựng mục tiêu thực tế. Sau đó, xem xét vị trí của điểm đến du lịch và mức độ xây dựng hình ảnh của điểm đến du lịch. Tiếp đến là xác định các công cụ cụ thể nhắm quảng bá sản phẩm.
Kế tiếp là tiến hành các giải pháp marketing bao gồm các chiến lược marketing và ngân sách marketing. Cuối cùng là tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các giải pháp. Marketing - mix trong kinh doanh du lịch: Các chính sách marketing – mix trong kinh doanh du lịch bao gồm: - Chính sách sản phẩm (Product) Điểm đến du lịch bao gồm các điểm tham quan du lịch. Như vậy, điểm đến du lịch giới thiệu đến du khách cả một danh mục sản phẩm du lịch.
Tùy thuộc vào mỗi điểm đến sẽ có những chính sách khác nhau về chủng loại, chất lượng, số lượng… - Chính sách giá (Price) Định giá sản phẩm du lịch là một quá trình phức tạp. Giá cả phải luôn được xác định theo định hướng thị trường và việc định vị sản phẩm trên thị trường. Quá trình định giá sản phẩm du lịch, ta phải xem xét các nhân tố sau: Mục đích chuyến đi của du khách Sự cạnh tranh về giá của các điểm đến khác Khả năng chi trả của du khách trên từng đoạn thị trường Các chi phí của điểm đến Mối quan hệ giữa giá cả và giá trị của sản phẩm du lịch đóng vai trò rất quan trọng. Có thể định giá cao cho những sản phẩm du lịch mang đến du Luan van 10 khách những trải nghiệm độc đáo.
Tuy nhiên, giá cả không phải là yếu tố quyết định tất cả bởi vì tính hấp dẫn của điểm đến du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách nữa hơn là yếu tố giá cả. - Chính sách phân phối (Place) Kênh phân phối sản phẩm du lịch là những hình thức phối hợp của các tổ chức và cá nhân nhằm cung cấp các hàng hóa và dịch vụ du lịch của điểm đến tới du khách một cách thuận tiện và nhanh nhất. Kênh phân phối trong du lịch có hai loại cơ bản là kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp. Kênh phân phối trực tiếp là kênh ngắn nhất từ điểm đến du lịch đến du khách, bỏ qua các trung gian phân phối.
Kênh phân phối gián tiếp có sự tham gia của các tổ chức phân phối. Phần lớn khách đi du lịch nước ngoài đều qua kênh phân phối gián tiếp. Các chương trình du lịch trọn gói là sản phẩm của các công ty lữ hành được bán thông qua các đại lý du lịch. Các công ty lữ hành đóng vai trò là nhà sản xuất, còn các đại lý du lịch như những đại lý bán hang nhằm thu tiền hoa hồng.
- Chính sách xúc tiến – cổ động (Promotion) Các điểm đến du lịch cần xây dựng cho mình một bản thuyết minh và giới thiệu nhất quán. Đây là lý do giải thích tại sao chúng ta cần phải tổ chức các hoạt động xúc tiến liên tục. Việc quảng cáo liên tục các tác dụng làm cho điểm đến du lịch không bị lãng quên. Các hoạt động xúc tiến phải cung cấp nhiều thông tin cho khách hàng và tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng tiềm năng đến điểm đến du lịch.
Có nhiều công cụ có thể sử dụng để xúc tiến du lịch và các công cụ này được sử dụng đồng thời tạo nên biện pháp xúc tiến tổng hợp. Việc xây dựng chiến lược xúc tiến phụ thuộc vào các đặc điểm đặc trưng của điểm đến du lịch, các nhóm mục tiêu, chiến lược của đối thủ cạnh tranh và ngân sách. Luan van 11 - Chính sách nguồn nhân lực (People) Để phục vụ cho phát triển du lịch, nguồn nhân lực rất quan trọng. Nguồn nhân lực phải đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý.
Phát triển nguồn nhân lực du lịch sẽ nâng cao sự hội nhập du lịch trên thị trường quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch. Chính sách này phải căn cứ trên định hướng phát triển du lịch, căn cứ vào dự báo phát triển du lịch.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH 1.1 Khái niệm về sự hài lòng Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một công ty (tổ chức) khi những kỳ vọng của họ được thoả mãn hoặc là thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ. Định nghĩa trên chỉ ra rằng sự hài lòng là kết quả so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng. Nếu lợi ích thực tế họ nhận được không như sự kỳ vọng thì họ sẽ thất vọng hay không hài lòng.
Ngược lại, nếu lợi ích thực tế khách hàng nhận được đáp ứng hoặc đáp ứng vượt quá sự kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng hoặc hài lòng cao hơn (có thể gọi là sự bất ngờ thú vị) 1.