Chương 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 2.1 Tổng quan về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức 2.1 Định nghĩa về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức Theo Robinson và cộng sự (2004): NV đối với tổ chức có thái độ tích cực được cho là NV đó muốn gắn kết lâu dài với tổ chức. NV có SGK sẽ có khả năng nhận ra được tình hình thị trường kinh doanh và vì lợi ích của tổ chức mà cải thiện hiệu suất cũng với đồng nghiệp (ĐN). Để có thể phát triển cũng như duy trì được SGK, đòi hỏi tổ chức phải luôn thúc đẩy một mối tương quan (MTQ) hai chiều giữa người sử dụng lao động và NLĐ.
Theo Macey (2008): Sự gắn kết đơn giản là sự hài lòng với công việc hoặc sự trung thành cơ bản của cá nhân với tổ chức, thể hiện niềm đam mê và sự cam kết, có thể sẵn sàng giúp tổ chức phát triển. Theo Michael Amstrong (2009): Sự gắn kết là tình trạng tất cả mọi người có sự cam kết với công việc, với tổ chức và điều này luôn được thúc đẩy để có thể đạt được mức hiệu quả cao hơn. Yếu tố này được thể hiện khi biểu hiện của NV là thích thú, hăng hái trong công việc và sẵn sàng bỏ ra công sức để làm việc hết khả năng của mình. Theo Stephen & Timothy (2015): Sự gắn kết của nhân viên là một cá nhân tham gia vào công việc với sự hài lòng và nhiệt tình của họ.
SGK với công việc là việc NV dành cả thể lực, trí lực của mình nhằm đạt hiệu suất cao trong công việc.2 Tầm quan trọng của sự gắn kết của nhân viên với tổ chức Theo Viện Nghiên cứu Việc làm IES (2004), NV có sự gắn kết sẽ có những đặc điểm: (1) Chủ động tích cực với từng công việc và từng mục tiêu khác nhau của tổ chức; (2) Có sự tin tưởng đối với tổ chức; (3) Làm việc tích cực với mong muốn mọi thứ sẽ tốt hơn; (4) Luôn giúp đỡ và có sự tôn trọng đối với ĐN để có thể đạt hiệu quả cao hơn trong công việc; (5) Tin cậy tổ chức, luôn hoàn thành các yêu cầu trong công việc một cách nhanh chóng và xuất sắc; (6) Nhận thức được giá trị bản thân trong tổ chức; (7) Cảm thấy có sự tương đồng 6 với tổ chức; (8) Luôn cập nhật những thay đổi về sự phát triển trong ngành, và các lĩnh vực đang làm; (9) Tìm kiếm và thấy được các tiềm năng mới nhằm mục đích cải thiện và tăng hiệu suất làm việc ở nơi làm việc.3 Phân loại mức độ gắn kết với công việc của nhân viên Theo tổ chức tư vấn Gallup (2004), họ đã chia NV ra làm 3 nhóm liên quan đến sự gắn kết với công việc: - Nhóm NV có sự gắn kết với công việc: Đây là nhóm những cá nhân có tinh thần xây dựng và tự giác cao. Những NV này quan tâm đến hoạt động kinh doanh của công ty và vai trò của họ tại công ty một cách tự nhiên nhất. Họ làm việc vì đam mê và tạo ra hiệu quả làm việc cao. Họ luôn muốn sử dụng năng lượng, và thế mạnh của bản thân để cống hiến cho công việc.
Nhóm người này luôn hướng đến những điều thay đổi, nâng cao giá trị và giúp tổ chức ngày một đi lên. - Nhóm NV không có sự gắn kết với công việc: Họ là nhóm những cá nhân chỉ chú tâm vào những nhiệm vụ cụ thể, không có sự chú trọng vào mục tiêu cũng như kết quả mong đợi sau cùng. Họ thuộc tuýp người trong đợi sự “cầm tay chỉ việc” trong tất cả mọi việc họ cần phải làm và chỉ tập trung vào những công việc mang tính cụ thể, chứ không để tâm đến việc gặt hái kết quả sau cùng. Những nhóm NV không có sự gắn kết với tổ chức thường có xu hướng cảm thấy sự đóng góp của mình không được coi trọng và luôn nhận định tiềm năng của bản thân không được đề cao, bởi vì họ không có sự gắn kết với cấp trên và ĐN.
- Nhóm NV chủ động không gắn kết với công việc: Đây là nhóm người mang chủ nghĩa “ly khai”, những người này luôn có xu hướng chống đối lại tất cả mọi thứ trong tổ chức. Họ cảm thấy không hạnh phúc, hòa hợp với nơi làm việc, và luôn tỏ ra chán nản.2 Khái quát về cửa hàng tiện lợi 2.1 Định nghĩa cửa hàng tiện lợi Hiện nay, cụm từ “cửa hàng tiện lợi” có lẽ đã dần trở nên quen thuộc với mọi người, nhất là những ai sống ở vùng thành thị nơi mà hầu hết mọi con đường đều xuất hiện vài cửa hàng 7 như thế. Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Nghị định 09/2018/NĐ-CP thì khái niệm cửa hàng tiện lợi được quy định cụ thể như sau: “Cửa hàng tiện lợi là cơ sở bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng nhanh, bao gồm: Thực phẩm, đồ uống, dược phẩm không kê đơn, thực phẩm chức năng và các sản phẩm bổ dưỡng sức khỏe, hóa mỹ phẩm và các sản phẩm khác phục vụ tiêu dùng hàng ngày.” Ở một số khu vực, các CHTL được cấp phép bán cả bia và rượu. Các cửa hàng này cũng có thể cung cấp dịch vụ chuyển tiền và chuyển khoản ngân hàng.
Các cửa hàng này tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, hầu như không có tại vùng nông thôn. Diện tích của một cửa hàng tiện lợi dao động từ 50 – 200 m², trung bình các CHTL tại Việt Nam có diện tích từ 100 - 150 m² (Nguồn: isaac. Thời gian hoạt động của cửa hàng tiện lợi từ khoảng 18 đến 24 tiếng mỗi ngày. Một số cửa hàng còn cung cấp khu vực ngồi ăn uống rộng rãi, do đó rất nhiều người nhất là các bạn trẻ, học sinh sinh viên đến đây không chỉ để mua hàng hóa mà còn lấy các địa điểm này làm nơi gặp gỡ, học tập, nghỉ ngơi.2 Tình hình hoạt động của các CHTL tại TP.HCM Như đã giới thiệu trong chương đầu tiên, tính đến tháng 5/2018 số lượng CHTL trên cả nước vào khoảng 1600 cửa hàng, trong đó hơn 70% là tập trung ở TP.
Con số này được dự đoán sẽ còn tăng lên gấp nhiều lần trong tương lai vì những nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đều đang nhắm đến thị trường màu mỡ này. Theo khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen vào cuối năm 2018, Việt Nam đứng thứ 6 toàn cầu về chỉ số phát triển thị trường bán lẻ và là một trong số 3 thị trường bán lẻ hoạt động sôi động nhất tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Nguồn: theleader. Vinmart+, Circle K và Family Mart hiện đang là 3 chuỗi cửa hàng lớn đi đầu với số lượng cửa hàng nhiều nhất trong nước, đặc biệt là tại TP.HCM tính đến tháng 5/2018 như sau: Bảng 2.1 Số lượng CHTL của các thương hiệu dẫn đầu trên thị trường 8 Tên cửa Số cửa hàng trên cả Số cửa hàng tại thành phố Hồ Chí hàng nước Minh Vinmart+ 805 332 Circle K 261 164 Family Mart 160 136 (Nguồn: theleader.vn, 2018) Bên cạnh đó là những cái tên quen thuộc khác như Ministop, B's Mart, 7 Eleven, GS25, Cheers,.Trước tình hình cạnh tranh vô cùng gay gắt mỗi cửa hàng đều có một chiến lược và chính sách kinh doanh riêng. Đa phần các cửa hàng đều tập trung vào phân khúc khách hàng trẻ, hiện đại, nổi trội là Circle K gần như tập trung hoàn toàn vào khách hàng là học sinh, sinh viên.
Rất dễ dàng tìm thấy nhiều hơn 2 cửa hàng Circle K xung quanh một trường học nào đó. Những người trẻ thường lui tới đây vì tại đây có chỗ ngồi tiện lợi để có thể nghỉ ngơi và ăn uống tại chỗ, có điều hòa mát mẻ, có cả wi-fi miễn phí. Khung giờ cao điểm tại các CHTL là từ 11h đến 13h và từ 17h đến 19h. Ngoài ra, Vinmart+ tập trung vào nhóm khách hàng lớn tuổi hơn, đa phần là các bà nội trợ, do vậy các cửa hàng Vinmart+ thường đặt trong khu dân cư và bán cả các mặt hàng tươi sống bên cạnh các mặt hàng tương tự như các cửa hàng còn lại.
Tiếp đến là Family Mart, họ chú tâm tập trung đánh vào chiến lược về giá, tung ra nhiều CTKM. Trong khi đó Ministop lại chủ yếu đánh vào sự gọn lẹ và thuận tiện của lẩu ly, cũng như phong phú về các loại sản phẩm. Đánh giá về xu hướng tăng trưởng của mô hình cửa hàng tiện lợi, ông Nguyễn Anh Đức - Phó tổng giám đốc Saigon Co.op cho rằng đây là xu hướng tất yếu, thỏa mãn được nhu cầu mua nhanh, dùng nhanh và thời gian mở cửa nhiều hơn cửa hàng truyền thống (Nguồn: Doanhnhansaigon. Hành vi tiêu dùng thay đổi, ngày càng nhiều người chọn mua hàng ở cửa hàng tiện lợi thay vì chợ hay tạp hóa truyền thống bởi sự nhanh, gọn, đa dạng chủng loại hàng hóa và chất lượng hàng hóa được cho là đảm bảo hơn.
Điều này là một tín hiệu khả quan cho các thương hiệu đang kinh doanh trong lĩnh vực này, tuy nhiên với lượng khách hàng ngày càng lớn, đòi hỏi từ khách 9 hàng ngày càng nhiều, sự so sánh giữa các cửa hàng cũng là những áp lực đòi hỏi mỗi cửa hàng cần phải cải thiện, phát triển hơn để không chỉ đơn thuần là nơi bán hàng mà còn là mang lại trải nghiệm mua sắm thoải mái cho khách hàng. Điều này đòi hỏi một đội ngũ NV chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản sao cho luôn đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng. Nhìn chung, lĩnh vực kinh doanh cửa hàng tiện lợi đang trên đà phát triển, tuy nhiên mô hình này cũng gặp rất nhiều thách thức đòi hỏi mỗi DN cần có kế hoạch cụ thể, hình thành quá trình kinh doanh hợp lý vừa đem lại sự riêng biệt, không trùng với đối thủ mà vẫn đảm bảo cung cấp đúng sự tiện lợi như chính cái tên của nó cho khách hàng. Để làm được điều đó, không chỉ phải tập trung đến lợi nhuận và doanh thu, các NQL cũng cần xem xét các chính sách về NV để phát triển đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, vững mạnh.
Đây được xem là một trong những yếu tố chính tạo nên sự thành công của các CHTL.2 Các thuyết liên quan đến sự gắn kết của nhân viên 2.