Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở thực tiễn và lý luận của đề tài 1. Cơ sở thực tiễn Tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, người nông dân không còn mặn mà với các loại cây trồng, vật nuôi truyền thống vì giá trị kinh tế thấp. Do vậy Thái Nguyên đang có những đầu tư tổng thể cho nông nghiệp, nông thôn, hướng tới một nền nông nghiệp đô thị phát triển, nâng cao đời sống của bà con nông dân vùng ven, trước tình hình diện tích đất nông nghiệp của tỉnh liên tục sụt giảm do tốc độ đô thị hoá, người nông dân đã chuyển dần một phần diện tích đất cấy lúa sang trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn.
Thành phố Thái Nguyên hiện có 750 ha rau các loại với sản lượng 14. Thành phố đã hình thành một số vùng sản xuất rau mang tính chuyên canh như: Túc Duyên, Cam Giá, Gia Sàng, Quang Vinh, Đồng Bẩm,. tuy nhiên, rau chủ yếu được sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, chưa có sự đầu tư lớn, đồng bộ cho sản xuất rau an toàn chất lượng cao. Bên cạnh đó rất nhiều hộ nông dân trồng rau vẫn sử dụng phân hóa học bón cho rau, phun thuốc bảo vệ thực vật quá nồng độ, liều lượng cho phép và không đảm bảo thời gian cách ly để thuốc phân hủy trong nông sản dẫn đến vệ sinh an toàn thực phẩm không được bảo đảm.
Hiện nay Thái Nguyên chưa có vùng sản xuất rau an toàn tập trung nên phải nhập lượng lớn rau từ các tỉnh lân cận. Để đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng thu nhập cho các hộ nông dân, thành phố Thái Nguyên đã triển khai Đề án phát triển sản xuất, tiêu thụ rau an toàn với các mô hình trồng rau an toàn tại một số phường ven sông Cầu: Túc Duyên, Cam Giá, Gia Sàng, Quang Vinh, Đồng Bẩm, … n 13 1. Cơ sở lý luận Ở Việt Nam với khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp, cây rau được trồng phổ biến và có khả năng sinh trưởng phát triển tốt. Rau là thực phẩm cung cấp các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người.
Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau xanh đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Việc đẩy mạnh sản xuất rau an toàn cung cấp cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu hiện nay cũng như thời gian tới là hết sức cần thiết đòi hỏi các cấp, các ngành cần đặc biệt quan tâm. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu và các chương trình phát triển sản xuất rau an toàn tại nhiều địa phương trên cả nước. Các nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trồng rau như sử dụng phân bón lá và dinh dưỡng hợp lý kết hợp kỹ thuật trồng chăm sóc hợp lý, sử dụng các loại chế phẩm có nguồn gốc thảo mộc để phòng trừ sâu bệnh hại đã và đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các Trung tâm nghiên cứu… 1.
Các nghiên cứu về cây tỏi trong phòng trừ sâu bệnh hại 1. Đặc điểm hình thái của cây tỏi Tỏi là cây nhỏ mọc từ củ lên. Cây cao chừng 20 - 40cm, thân giả mang nhiều lá dài và hẹp, giữa củ mọc lên một cuống mang một số hoa ở đỉnh, bọc trong một mô mỏng, hoa tỏi có màu trắng hay phớt hồng. Nước ta trồng tỏi vào tháng 10 - 12 dương lịch trên nền đất tơi xốp nhiều mùn.
Tỏi củ sẽ được thu hoạch vào tháng 1 năm sau, phơi khô, treo mái hiên hay gác lên nóc nhà dùng dần. Công dụng của cây tỏi Trong các loại củ, quả như: ớt, tỏi, hành, gừng,. có chứa hàm lượng axit có tác động đến cơ thể của những loài sâu bọ hại cây trồng như mắt, da,. làm chúng chết.
Nếu chiết xuất thảo mộc này được chế biến với nồng độ phù hợp sẽ xua đuổi, tiêu diệt được các loài sâu bọ - TS Lê Đình Hường. n 14 Theo Amy Cohen (2009) tỏi được đánh giá cao như là một gia vị và tính chất y học của nó. Giá trị của nó như là thuốc trừ sâu cũng được đánh giá cao, đặc biệt là trong nông nghiệp hữu cơ, trồng trong vườn rau. Theo Sally Odum (2008) tỏi là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên tuyệt vời.
Nó có đăc tính diệt nấm và kiểm soát sâu bệnh rất tốt, đẩy lùi và loại trừ các loài côn trùng và sâu bệnh như: rệp, kiến, mối, bọ cánh cứng, sâu đục thân,… 1. Các nghiên cứu về cây hành trong phòng trừ sâu bệnh hại 1. Đặc điểm hình thái của cây hành Là cây thân thảo, sống lâu năm, có mùi đặc biệt. Lá hình trụ rỗng, dài 30 – 50cm, đường kính 4 – 8mm, phía giữa phình lên, đầu thuôn nhọn, mỗi cây có 5 – 6 lá.
Hoa tự, mọc trên một cán mang hình trụ, rỗng. Bao hoa gồm 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 cánh, 3 lá đài màu trắng, 6 nhị, bao phấn hình chữ T. Quả nang, hình tròn, đường kính 6mm. Hạt hình 3 cạnh, màu đen.
Hành trồng khắp nơi ở nước ta và chủ yếu dùng làm gia vị, đồng thời dùng làm thuốc. Công dụng của cây hành Hành là một phần không thể thiếu trong bếp ăn của mọi gia đình, nó được xem như một loại rau và cũng là đồ gia vị. Hành lá được trồng quanh năm để phục vụ nhu cầu nội trợ. Hành là một chất kích thích và chống lại các kích thích nhẹ.
Nghiền nát hành sống đắp lên trên trán có thể làm giảm đau đầu. Các củ hành nhỏ màu đỏ có thể được sử dụng như một thuốc long đờm. Nếu đem nghiền nát các củ hành này trộn với đường phèn, để một lúc cho nước chảy ra. Nước ép này có tác dụng giúp làm loãng đờm và ngăn chặn sự tái phát.
Dùng khoảng 3 - 4 thìa cà phê của nước ép sẽ làm dịu đi chứng ho và đau họng. n 15 Việc ăn hành sống giúp giảm cholesterol vì chúng làm tăng cao mật độ lipoproptein ('''vật" trung chuyển cholesterol). Do vậy rất nên ăn hành sống trong các món sa lát hàng ngày nếu bị mắc các bệnh liên quan đến tim mạch. Điều trị bệnh liên quan đến đường tiết niệu.
Để trị chứng nóng rát khi đi tiểu, đun 100gr hành với 600ml nước. Đun cho đến khi chỉ còn khoảng một nửa thì có thể uống. Pha với đường sẽ giúp giảm chứng bí tiểu. Hợp chất lưu huỳnh có trong hành sẽ giúp cho việc ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư.
Hành cũng có tác dụng trong việc điều trị bệnh thiếu máu, sự chảy máu do bệnh trĩ, chảy máu răng. Nước ép từ thân hành rất tốt cho việc điều trị bệnh thiếu máu. Các chất có trong hành: trong hành có các men inventrin, pepsin, pancreatin góp phần vào quá trình chuyển hóa các chất đạm, mỡ và đường. Hành chứa hợp chất ngăn chặn lipoxygenaea và cyclooxygenaea (các anzym này gây ra chứng viêm) nhờ vậy mà làm giảm đáng kể chứng viêm.
Trong hành có chứa rất nhiều fructo-oligosac-charides, gây ức chế sự phát triển của các vi khuẩn có hại tiềm ẩn trong ruột kết. Ngoài ra fructo- oligosac-charides còn có thể làm giảm sự phát triển khối u của các tế bào ung thư ruột kết. Ngày 08/02/2010 các nhà khoa học thuộc trường Đại học Quốc gia Mêxico (UNAM) thông báo đã chế thành công một loại thuốc trừ sâu sinh học từ ớt, tỏi, hành và nhiều loại gia vị sẵn có ở Quốc gia Trung Mỹ này. Giá trị dinh dưỡng và vai trò sản xuất rau trong nền kinh tế quốc dân 1.
Giá trị dinh dưỡng của cây rau Cây rau là một bộ phận cây trồng hàng năm dùng làm thực phẩm, rất cần thiết trong đời sống hàng ngày và không thể thay thế đối với sức khoẻ con người. Rau cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể n 16 thay thế được. Do rau là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng dưới dạng đặc biệt như: vitamin, các chất khoáng và chất xơ cho người. Trong khẩu phần ăn của người Việt Nam hiện nay, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60 - 70% nguồn vitamin B2, và gần 100% nguồn vitamin C.
Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà,. do thiếu vitamin A; chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược.… do thiếu vitamin C; lở loét miệng lưỡi, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin B2; tê phù do thiếu vitamin B1. Thiếu vitamin sẽ giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc sút kém, bệnh tật dễ phát sinh, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành. Trong lao động, học tập, công tác, sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vitamin nhất định (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, 2000).
Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể như Ca, P, Fe,… Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người thì canxi và sắt được chú ý hơn cả, canxi rất cần cho việc đảm bảo chức năng xương và răng, còn sắt ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Các loại muối khoáng cần thiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzime, muối khoáng còn là tác nhân gây xúc tác và điều hoà các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có tác dụng trung hoà độ chua do dạ dày tiết ra, khi tiêu hoá thức ăn như thịt, ngũ cốc, đồng thời làm tăng khả năng đồng hoá protit (Tạ Thu Cúc và CS, 2000). Lượng gluxit và protein trong rau bổ sung cho ta được một phần năng lượng tuy không nhiều nhưng điều đáng chú ý là protein của rau nói chung chứa nhiều lizin (khoảng 5 - 7%) và mỗi loại rau lại có những tỷ lệ axit amin khác nhau nên khi ăn rau, nhất là ăn một lúc nhiều loại rau sẽ có tác dụng lớn trong việc nâng cao giá trị sử dụng protein của rau. n 17 Chất xơ trong rau giúp cho sự tiêu hoá được điều hoà, chống táo bón, giữ được cảm giác no.
Ngoài giá trị về dinh dưỡng, một số loại rau còn có ý nghĩa về mặt y học bởi chúng là những vị thuốc rất có giá trị đối với sức khoẻ con người, ví dụ như hành, tỏi, nghệ, tía tô, mướp đắng,… đây là những loại gia vị vừa làm ngon miệng, vừa làm tăng sức đề kháng trong cơ thể. Rau xanh rất phong phú về chủng loại, vì vậy thức ăn được chế biến từ rau rất đa dạng với nhiều màu sắc đẹp mắt, hương vị thơm mát, góp phần tạo nên những bữa ăn ngon miệng và hấp dẫn.