Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số tổ hợp ngô lai vụ xuân và thu đông năm 2015 tại thành phố thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số tổ hợp ngô lai vụ xuân và thu đông năm 2015 tại, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

99
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khả năng sinh trưởng của ngô lai

Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai trong hai vụ vụ xuânvụ thu đông năm 2015 tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tốc độ tăng trưởng chiều cao và sự hình thành lá giữa các tổ hợp. Các chỉ tiêu như chiều cao cây, số lá, và chỉ số diện tích lá (LAI) được theo dõi chặt chẽ. Biến đổi khí hậuthời tiết đã ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng, đặc biệt là trong vụ thu đông.

1.1. Giai đoạn sinh trưởng

Các giai đoạn sinh trưởng từ gieo đến trỗ cờ, tung phấn, và phun râu được ghi nhận. Thời gian sinh trưởng trung bình của các tổ hợp ngô lai dao động từ 90 đến 110 ngày. Kỹ thuật canh tácquản lý nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển đồng đều của cây.

1.2. Tốc độ tăng trưởng

Tốc độ tăng trưởng chiều cao và sự hình thành lá được đánh giá qua các giai đoạn. Các tổ hợp ngô lai có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong vụ xuân so với vụ thu đông. Đất đaithời tiết là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ này.

II. Đặc điểm hình thái và sinh lý

Nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm hình thái như chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, và tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây. Giống ngô có ảnh hưởng lớn đến các đặc điểm này. Chỉ số diện tích lá (LAI) và số lá còn xanh khi thu hoạch cũng được ghi nhận, cho thấy sự khác biệt giữa các tổ hợp.

2.1. Chiều cao và tỷ lệ đóng bắp

Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp được đo lường để đánh giá khả năng chống đổ và hiệu quả quang hợp. Các tổ hợp ngô lai có chiều cao trung bình từ 2,5 đến 3,0 mét, với tỷ lệ đóng bắp từ 60% đến 70%. Năng suất ngô có liên quan mật thiết đến các chỉ số này.

2.2. Chỉ số diện tích lá LAI

Chỉ số diện tích lá (LAI) là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá khả năng quang hợp của cây. Các tổ hợp ngô lai có LAI từ 3,5 đến 4,5 m² lá/m² đất cho thấy hiệu quả quang hợp cao, góp phần tăng năng suất ngô.

III. Khả năng chống chịu và năng suất

Nghiên cứu đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ của các tổ hợp ngô lai. Các yếu tố cấu thành năng suất như số bắp/cây, chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng hạt trên bắp, và khối lượng 1000 hạt được phân tích. Sản xuất ngô tại Thái Nguyên đạt hiệu quả cao nhờ việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến.

3.1. Chống chịu sâu bệnh

Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai được đánh giá qua mức độ nhiễm bệnh và sự phát triển của sâu hại. Các tổ hợp có khả năng chống chịu tốt hơn trong vụ xuân so với vụ thu đông. Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh trong vụ thu đông.

3.2. Yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố như số bắp/cây, chiều dài bắp, và khối lượng 1000 hạt được đo lường để dự đoán năng suất ngô. Các tổ hợp ngô lai có số bắp/cây từ 1,5 đến 2,0 và khối lượng 1000 hạt từ 250 đến 300 gram cho thấy tiềm năng năng suất cao.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu kết luận rằng các tổ hợp ngô lai có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất cao phù hợp với điều kiện nông nghiệp tại Thái Nguyên. Các giải pháp như cải thiện kỹ thuật canh tác, quản lý nước hiệu quả, và chọn lọc giống ngô có khả năng chống chịu tốt được đề xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất ngô.

4.1. Giải pháp kỹ thuật

Áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến như tưới tiêu hợp lý, bón phân cân đối, và quản lý sâu bệnh hiệu quả để tăng năng suất ngô. Quản lý nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển ổn định của cây.

4.2. Chọn lọc giống

Chọn lọc các giống ngô có khả năng chống chịu tốt với biến đổi khí hậu và sâu bệnh để đảm bảo năng suất ổn định. Các tổ hợp ngô lai có tiềm năng cao cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Ngày nay nhu cầu ngô ở nước ta ngày càng lớn đặc biệt là phục vụ cho chăn nuôi, vì vậy phát triển sản xuất, tăng sản lượng ngô là đòi hỏi cấp thiết nhằm phục vụ nhu cầu thị trường. Phát triển sản xuất ngô cần có các giải pháp đồng bộ trong đó cải thiện cơ cấu giống là rất cần thiết. Các nhà khoa học ước tính khoảng 30 - 50% mức tăng năng suất cây lương thực trên thế giới là việc đưa vào sản xuất những giống mới (Trần Thượng Tuấn, 1992) [26].

Giống là một tư liệu sản xuất sống, có quan hệ mật thiết với môi trường. Giống chỉ có thể phát huy được tính ưu việt trong điều kiện trồng trọt phù hợp. Trong chọn tạo giống, từ vật liệu khởi đầu, các nhà khoa học đã lai tạo được các tổ hợp lai, tuy nhiên quá trình từ tổ hợp lai đến được công nhận giống phải thực hiện đánh giá rất kỹ lưỡng qua nhiều vụ, nhiều vùng sinh thái để loại các tổ hợp lai có những yếu điểm về các đặc tính nông sinh học như: Thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém và dễ nhiễm sâu bệnh. Để có các giống ngô lai tốt phục vụ cho sản xuất của tỉnh Thái Nguyên và có cơ sở lựa chọn giống phù hợp với vùng có điều kiện sinh thái tương ứng, đề tài đã thực hiện nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu của các tổ hợp ngô lai có triển vọng.

Để đảm bảo độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu, nghiên cứu được thực hiện ở các mùa vụ khác nhau. Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây ngũ cốc lâu đời đã tồn tại ở Trung Mỹ từ hàng nghìn năm. Ngày nay ngô là cây trồng phổ biến trên thế giới, từ 550 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam.

Do có khả năng thích ứng rộng, nên ngô được trồng từ độ cao 1 - 2 m so với mặt nước biển ở vùng Andet - Peru đến gần 4. 5 Ngô là cây trồng có vị trí và tầm quan trọng trong nền kinh tế nên sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn năm 2004 - 2015 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2004 147,45 49,44 728,97 2005 148,04 48,21 713,68 2006 146,74 48,17 706,85 2007 158,39 49,88 790,12 2008 162,69 51,06 830,61 2009 158,74 51,67 820,20 2010 164,05 51,89 851,27 2011 171,38 51,76 887,11 2012 178,74 48,97 875,31 2013 185,67 54,80 1017,54 2014 183,32 55,73 1.021,62 2015 179,91 56,30 1013,56 (Nguồn: FAOSTAT,2016)[47], USDA, 2016)[57] Số liệu bảng 1.1 cho thấy giai đoạn 2004-2014 sản xuất ngô trên thế giới đều tăng về diện tích, năng suất và sản lượng. Từ năm 2004 đến 2014 diện tích trồng ngô tăng từ 147,45 triệu ha lên đến 183,32 triệu ha tăng 24,33%, năng suất tăng từ 49,44 tạ/ha lên tới 55,73 tạ/ha tăng 12,72%, sản lượng tăng từ 728,97 triệu tấn lên đến 1.021,62 triệu tấn tăng 40,15%.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, năm 2015 diện tích trồng ngô trên thế giới đạt 179,91 triệu ha, giảm 3,41 triệu ha so với năm 2014 (USDA, 2016)[57]. Diện tích canh tác ngô giảm do tác động của sự thay đổi về thời tiết khí hậu, nhiều nơi trên thế giới thời gian khô hạn kéo dài nên không thể 6 bắt đầu mùa vụ trồng ngô. Mặc dù diện tích ngô giảm nhưng do áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nên năng suất ngô năm 2015 vẫn đạt 56,3 tạ/ha. So với năm 2011, năm 2015 diện tích ngô thế giới tăng 4,44%, năng suất tăng 9,32 % và sản lượng tăng 14,16 %.

Dự báo năm 2050, sản lượng ngô sẽ đạt 1.343 triệu tấn, diện tích thu hoạch đạt 156 triệu ha và năng suất là 86 tạ/ha (DeepakK. Trên thế giới ngô được trồng ở hầu hết các châu lục, nhưng do sự khác biệt về trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác, điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô của các vùng khác nhau.2: Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Á 59,10 51,47 304,14 Châu Âu 18,75 60,12 112,74 Châu Mỹ 68,40 76,97 526,45 Châu Phi 37,00 20,99 77,64 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2016[47]) Châu Mỹ - quê hương của cây ngô là châu lục có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích 68,40 triệu ha chiếm 37,31% tổng diện tích trồng ngô của thế giới và sản lượng đạt 526,45 triệu tấn chiếm 51,53% sản lượng ngô toàn thế giới (năm 2014). Châu lục có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 thế giới là châu Á. Năm 2014, diện tích ngô của châu Á là 59,10 triệu ha sản lượng đạt 304,14 triệu tấn.

Châu Âu có diện tích trồng ngô nhỏ nhưng đây là nơi tập trung nhiều nước có trình độ phát triển nên năng suất ngô tương đối cao, năm 2014 năng suất ngô của châu Âu đạt 60,12 tạ/ha cao thứ 2 sau châu Mỹ. 7 Châu Phi là châu lục có năng suất ngô rất thấp chỉ đạt 20,99 tạ/ha, sản lượng đạt 77,64 triệu tấn vào năm 2014. Sở dĩ châu Phi có năng suất ngô thấp nhất thế giới là do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ thâm canh thấp, chưa có điều kiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.3: Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 33,64 107,33 361,09 Trung Quốc 35,95 59,98 215,64 Brazil 15,43 51,76 79,88 Ấn Độ 8,60 27,52 23,67 Mêxicô 7,06 32,96 23,27 Israel 0,005 340,98 0,16 Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2016[47] Năm 2014, Trung Quốc là nước có diện tích ngô lớn nhất thế giới (35,95 triệu ha), sản lượng đạt 215,64 triệu tấn. Từ những năm 2012 trở về trước diện tích ngô của Trung Quốc đứng vị trí thứ 2 sau Mỹ, nhưng do nhu cầu sử dụng ngô ngày càng tăng nên diện tích ngô của Trung Quốc được mở rộng, từ năm 2013 đã vươn lên đứng đầu thế giới.

Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 trên thế giới với 33,64 triệu ha và sản lượng lớn nhất thế giới đạt 361,09 triệu tấn chiếm 35,34% tổng sản lượng ngô của thế giới. Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích trồng ngô nhỏ (0,005 triệu ha) nhưng với trình độ khoa học cao, đầu tư lớn nên Isarel có năng suất ngô cao nhất thế giới đạt 340,98 tạ/ha cao hơn gấp 6,1 lần so với bình quân năng suất ngô thế giới (năm 2014). Một số nước có năng suất ngô cao nhất thế giới năm 2014 là Isarel 340,98 tạ/ha, Kuwait -307,5 tạ/ha, Tajikistan-127,5 tạ/ha, Tây Ban Nha -112,4 tạ/ha, Hy lạp -119,6 tạ/ha, Hà Lan -109,9 tạ/ha, Newzealand-109,9 tạ/ha. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới Ngô là cây trồng có vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới vì góp phần giải quyết nhu cầu lương thực con người và là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi.

Sản lượng ngô tiêu thụ nội địa trên thế giới rất lớn, trung bình hàng năm đều trên 700 triệu tấn. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2014)[55] trong niên vụ 2014/15, nhu cầu tiêu thụ nội địa của ngô trên thế giới là 967,52 triệu tấn. Trong niên vụ 2016/17, ước tính sản lượng ngô thế giới dùng cho tiêu thụ là 1003 triệu tấn (IGC, 2016)[49]. Các quốc gia tiêu thụ ngô nhiều nhất trên thế giới cũng chính là các quốc gia có sản lượng lớn nhất.

Mỹ là nước có nhu cầu tiêu thụ nội địa lớn nhất (296,81 triệu tấn) chiếm 30,68% nhu cầu tiêu thụ nội địa toàn thế giới (USDA, 2014)[55]. Tổng sản lượng ngô tại Mỹ trong năm 2013 - 2014 là 330,6 triệu tấn, trong đó 27,3% sản lượng dùng để sản xuất ethanol và những sản phẩm khác (USDA & ProExporter Network, 2014) [56]. Sản lượng ngô xuất khẩu đang có xu hướng giảm tại Mỹ, Brazin, Achentina,… một số nước như Trung Quốc không xuất khẩu ngô vì một phần xuất phát từ nhu cầu của các nhà sản xuất ethanol và si-rô ngô. Si-rô ngô có hàm lượng fructose (HFCS) cao, đây là một loại chất làm ngọt có chứa hàm lượng calorie lớn, được sử dụng trong các thực phẩm chế biến sẵn (Bloomberg, 2012) [42].

Trong những năm gần đây khi thế giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt, ngô đã được sử dụng làm nguyên liệu chế biến ethanol, thay thế một phần nhiên liệu xăng dầu chạy ô tô ở Mỹ, Braxin, Trung Quốc,. Nhu cầu ngô cho ngành chăn nuôi và sản xuất nhiên liệu sinh học của Trung Quốc vẫn tăng mạnh, niên vụ 2012/13 Trung Quốc tiêu thụ 207 triệu tấn ngô, tăng 10,1% so với cùng kỳ. Tiêu thụ ngô của EU đạt 69 triệu tấn, vượt quá khả năng sản xuất của khu vực này, trong khi Brazil chỉ tiêu thụ 53 triệu tấn và vẫn là một trong những nước xuất khẩu ngô hàng đầu thế giới (USDA, 2014)[55]. 9 Lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm khoảng trên 100 triệu tấn.

Năm 2015, Mỹ là nước xuất khẩu ngô lớn nhất chiếm 37% lượng ngô xuất khẩu toàn cầu (Statista, 2016)[54] Braxin là nước đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất ngô với diện tích gieo trồng đạt 15,12 triệu ha, sản lượng hơn 82 triệu tấn. Sản phẩm ngô chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa dùng chế biến làm thực ăn chăn nuôi. Dự báo vào năm 2019/2020, sản lượng ngô của Braxin tăng lên tới 70,12 triệu tấn/năm và tiêu dùng nội địa đạt khoảng 56,20 triệu tấn, xuất khẩu đạt khoảng từ 12,6 tới 19 triệu tấn/năm. Braxin sẽ vươn lên trở thành nước xuất khẩu ngô hàng đầu trên thế giới.

Năm 2015, lượng ngô xuất khẩu của Brazil chiếm 17% lượng ngô xuất khẩu toàn cầu (Statista, 2016)[54]. Thị trường xuất khẩu ngô chủ yếu của Braxin là Iran chiếm 26,5%, tiếp theo là Việt Nam, Hàn Quốc, Ai Cập, Indonexia, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản, Maroc, Tiểu Vương quốc Ả Rập. Trong năm 2014, Braxin xuất khẩu sang Việt Nam 2,957 triệu tấn đạt giá trị 725,5 triệu USD (Bộ Công thương, 2015)[5]. Giá ngô trên thị trường thế giới tháng 12/2014 tăng lên 182,52 USD/tấn, tăng 2,2% so với tháng 11/2014 nhưng giảm mạnh 7,6% so với cùng tháng năm 2013.

Nguyên nhân sản lượng ngô thế giới niên vụ 2014- 2015 tăng 12,56 triệu tấn so với cùng kỳ niên vụ trước, do điều kiện thời tiết thuận lợi ở khu vực vành đai trồng ngô của nước sản xuất và xuất khẩu ngô hàng đầu thế (Cục xúc tiến thương mại, 2015) [9].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá khả năng sinh trưởng của ngô lai vụ xuân và thu đông 2015 tại Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả canh tác ngô lai trong hai vụ mùa chính tại tỉnh Thái Nguyên. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của ngô lai, đồng thời đưa ra các khuyến nghị nhằm tối ưu hóa quy trình canh tác. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho nông dân, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất chất lượng cỏ P Hamill B Mulato 2, nghiên cứu này cũng tập trung vào việc đánh giá tác động của phân bón đến sinh trưởng cây trồng. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng các mức đạm và mật độ cấy đến sinh trưởng giống lúa TBR45 cung cấp thêm góc nhìn về yếu tố dinh dưỡng và kỹ thuật canh tác. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tài nguyên nước xây dựng mô hình chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cỏ là một tài liệu thú vị về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phù hợp với những ai quan tâm đến phát triển bền vững.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra các hướng nghiên cứu mới, giúp bạn hiểu sâu hơn về nông nghiệp hiện đại.