ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––––– HÀ NGỌC TƯỞNG NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THÂN LÁ NGÔ Ủ CHUA NUÔI BÒ THỊT GIAI ĐOẠN VỖ BÉO Chuyên ngành: Chăn nuôi Mã số: 60.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PGS. Trần Tố THÁI NGUYÊN - 2012 2012 n i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây. Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ địa chỉ, tác quyền và nguồn gốc. Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012. Tác giả Hà Ngọc Tưởng n ii LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo; các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Trần Tố, đã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài này. Cám ơn các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn, khoa đã tạo điều kiện giúp đỡ suốt trong quá trình học tập và hoàn thiện báo cáo. Xin chân thành cám ơn Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012 Tác giả Hà Ngọc Tưởng n iii MỤC LỤC Lời cam đoan.ii Mục lục.iii Danh mục các từ viết tắt và ký hiệu. v Danh mục các bảng . vi Danh mục các hình.vii MỞ ĐẦU . Tính cấp thiết của đề tài . Mục tiêu của đề tài . Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài . Ý nghĩa khoa học . Ý nghĩa thực tiễn . 3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Cơ sở khoa học. Kỹ thuật vỗ béo . Một số nét sơ lược về cây ngô . Đặc điểm về tiêu hoá ở gia súc nhai lại . Lượng thức ăn ủ chua cần thiết. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc nhai lại . Các nghiên cứu ngoài nước. Các nghiên cứu trong nước . 38 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu . Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm và thời gian nghiên cứu . Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp xử lý số liệu. 49 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN . Kết quả xác định thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cây ngô trước và sau khi ủ chua. Xác định tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở bò. Kết quả theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng. Kết quả theo dõi hiệu quả sử dụng thức ăn đến tăng khối lượng vỗ béo bò thịt. 61 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ . 64 MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA PHỤ LỤC n v DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Stt Ký hiệu viết tắt Các từ (cụm từ) đầy đủ 1. ADF Xơ không tan trong dung dịch axit 2. AXBBH Axit béo bay hơi 3. ctv Cộng tác viên 5. CK Chất khô 7. CP Protein thô 8. DIP Protein ăn vào được tiêu hóa 9. ĐVT Đơn vị tính 10. ME Năng lượng trao đổi 11. NDF Xơ không tan trong dung dịch trung tính 12. NE Năng lượng thuần 13. NFC Carbohydrate không xơ 14. NPN Nitơ phi protein 15. NRC Hội đồng nghiên cứu quốc gia (Mỹ) 16. RDP Protein phân giải ở dạ cỏ 17. RUP Protein không bị phân giải ở dạ cỏ 18. TL Tỷ lệ 19. TLTH Tỷ lệ tiêu hóa 20. TMR Khẩu phần trộn hoàn chỉnh 21. TN Thí nghiệm 22. UIP Protein ăn vào không bị phân huỷ 23. VCK Vật chất khô 24. VSV Vi sinh vật n vi DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 . Khẩu phần ăn cho bò và thành phần giá trị dinh dưỡng. Thành phần hóa học của cây ngô tươi và ngô ủ chua . Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của bò ăn khẩu phần thí nghiệm . Tỷ lệ tiêu hóa protein trong thức ăn của bò. Tỷ lệ tiêu hóa xơ của bò ăn khẩu phần thí nghiệm. Sinh trưởng tích lũy của bò theo thời gian thí nghiệm. Sinh trưởng tuyệt đối của bò theo thời gian thí nghiệm. Sinh trưởng tương đối của bò theo thời gian thí nghiệm . Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng. Chi phí thức ăn trong vỗ béo bò thịt. 62 n vii DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Sơ đồ qui trình vỗ béo bò.2: Sơ đồ con đường tiêu hóa Protein và carbohydrate trong dạ cỏ.3: Sơ đồ động thái lên men của dạ cỏ .4: Sơ đồ sự chuyển hoá các chất chứa nitơ trong dạ cỏ. Biểu đồ tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở bò. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm . Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của bò theo thời gian. Đồ thị sinh trưởng tương đối của bò theo thời gian. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống chủ yếu ở nông thôn. Nguồn thu nhập chính của nông dân là sản phẩm của chăn nuôi và trồng trọt. Trong đó chăn nuôi trâu bò đã và đang góp phần quan trọng làm tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, đồng thời nâng cao nguồn thu nhập cho người chăn nuôi. Ngày nay, với việc cơ khí hóa sản xuất nông nghiệp nhưng chăn nuôi trâu bò vẫn chiếm một vị trí quan trọng. Bởi vậy, chăn nuôi trâu bò ngoài cung cấp sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp, chúng còn cung cấp thực phẩm quý cho xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế của xã hội, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, nhu cầu của người dân về thịt, sữa tăng là cơ hội thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu bò phát triển. Vấn đề quan trọng để phát triển chăn nuôi trâu bò là phải đáp ứng đầy đủ lượng thức ăn thô xanh quanh năm và cân bằng dinh dưỡng. Nguồn thức ăn thô xanh chính cung cấp cho đàn bò nước ta chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng, trong khi đó nhu cầu sản xuất lương thực cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao làm cho diện tích đồng cỏ tự nhiên, đất đai trồng cỏ và chăn thả trâu bò bị thu hẹp. Vào mùa đông ở miền Bắc cũng như mùa khô ở miền Nam thường khan hiếm thức ăn thô xanh làm cho ngành chăn nuôi trâu bò gặp nhiều khó khăn, trong khi đó ngoài nguồn thức ăn là cỏ thì nguồn phụ phẩm nông nghiệp của nước ta rất dồi dào. Vì vậy, việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho trâu bò trở nên quan trọng trong các mùa vụ mà cỏ tự nhiên kém phát triển, không đáp ứng đủ số lượng cũng như chất lượng cho đàn gia súc. Hàng năm các tỉnh miền Bắc đều có diện tích trồng ngô khá lớn, tập trung chủ yếu vụ đông xuân. Việc thu hoạch ngô vụ đông xuân thường vào tháng 3; n 2 tháng 4, đây là thời điểm thường có mưa nhiều nên việc chế biến thân lá ngô bằng phương pháp phơi khô gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó người dân còn chưa được biết nhiều về việc chế biến thân lá ngô làm thức ăn cho gia súc, vì vậy thân lá ngô thường được bỏ tại ruộng hoặc đốt làm phân bón. Nghiên cứu xử lý, chế biến thức ăn thô để chăn nuôi trâu bò không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, trong điều kiện Việt Nam các nghiên cứu này có tầm ứng dụng rộng rãi vì nó thiết thực, thúc đẩy chăn nuôi trâu bò phát triển, giải quyết được các khó khăn do không thể phát triển đồng cỏ trên cơ sở tận thu nguồn phế liệu nông nghiệp, giải quyết được cả vấn đề môi trường do khói bụi của việc đốt các phế liệu này gây ra đang là vấn đề tồn tại ở nhiều địa phương, đồng thời góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi trong đó có chăn nuôi bò thịt. Nguồn thân lá cây ngô tươi sau thu hoạch bắp hằng năm ở nước ta lên tới hàng chục triệu tấn. Việc nghiên cứu dùng chúng làm thức ăn nuôi bò nói riêng cũng như nguồn phế phụ phẩm trồng trọt nói chung là vấn đề thực tiễn to lớn trong chăn nuôi ở nước ta. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sử dụng thân lá ngô ủ chua nuôi bò thịt trong giai đoạn vỗ béo”. Mục tiêu của đề tài - Xác định được thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thân lá ngô trước và sau khi ủ chua (thân lá cây ngô sau thu hoạch bắp ở thời điểm 110 ngày tuổi). - Đánh giá khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng của thức ăn có sử dụng thân lá ngô tươi và ủ chua ở bò thịt. - Đánh giá hiệu quả sử dụng thân lá ngô sau chế biến bằng phương pháp ủ chua cho bò thịt giai đoạn vỗ béo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Góp phần cung cấp thêm nguồn thông tin khoa học cần thiết cho việc nghiên cứu về chế biến phế phụ phẩm sau thu hoạch của ngành nông nghiệp từ thân lá cây ngô để sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và chăn nuôi bò thịt vỗ béo nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn - Phục vụ cho sản xuất trong việc tận dụng hiệu quả phế phụ phẩm từ thân lá cây ngô sau thu hoạch làm nguồn thức ăn trong chăn nuôi nhằm giảm chi phí giá thành và đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. - Khuyến cáo cho người chăn nuôi trong việc sử dụng phương pháp chế biến, sử dụng ủ chua thân lá ngô sau thu hoạch làm thức ăn chăn nuôi. - Góp phần giảm áp lực thức ăn thô xanh cho gia súc nhai lại vào mùa đông và giảm ô nhiễm môi trường do đốt thân lá cây ngô khô sau thu hoạch bắp. n 4 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Kỹ thuật vỗ béo Nuôi vỗ béo bò là nuôi dưỡng đặc biệt với mức ăn dồi dào, khẩu phần có giá trị hoàn thiện nhằm mục đích thu được ở con vật một lượng thịt tối đa với chất lượng thoả đáng. Có rất nhiều phương pháp vỗ béo khác nhau và phương pháp quản lý bò vỗ béo cũng khác nhau tuỳ theo phương pháp vỗ béo.
Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia nông nghiệp với dân số chủ yếu sinh sống ở nông thôn, trong đó chăn nuôi trâu bò đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và cung cấp thực phẩm. Tuy nhiên, nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc, đặc biệt là bò thịt, đang bị hạn chế do diện tích đồng cỏ tự nhiên và đất trồng cỏ ngày càng thu hẹp, nhất là vào mùa đông và mùa khô. Nguồn phụ phẩm nông nghiệp như thân lá ngô sau thu hoạch có tiềm năng lớn để bổ sung thức ăn cho bò, với sản lượng hàng năm lên tới hàng chục triệu tấn. Việc sử dụng thân lá ngô ủ chua làm thức ăn cho bò thịt trong giai đoạn vỗ béo không chỉ giúp tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có mà còn góp phần giảm chi phí thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế và giảm ô nhiễm môi trường do đốt bỏ phế liệu nông nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu là xác định thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá ngô trước và sau khi ủ chua, đánh giá khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn có sử dụng thân lá ngô tươi và ủ chua ở bò thịt, đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng thân lá ngô ủ chua trong giai đoạn vỗ béo. Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì trong năm 2012, tập trung vào giai đoạn vỗ béo bò thịt kéo dài 60-90 ngày. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung kiến thức về chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc nhai lại, đồng thời có ý nghĩa thực tiễn trong việc ứng dụng rộng rãi tại các địa phương nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò thịt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về tiêu hóa và chuyển hóa dinh dưỡng ở gia súc nhai lại, đặc biệt là quá trình lên men thức ăn trong dạ cỏ nhờ hệ vi sinh vật gồm vi khuẩn, nấm yếm khí và protozoa. Các sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men là axit béo bay hơi (AXBBH), protein vi sinh vật và các chất dinh dưỡng thoát qua dạ cỏ, đóng vai trò quan trọng trong cung cấp năng lượng và protein cho vật nuôi. Mô hình tiêu hóa protein và carbohydrate trong dạ cỏ được áp dụng để đánh giá hiệu quả tiêu hóa thức ăn. Ngoài ra, lý thuyết về kỹ thuật ủ chua thức ăn thô xanh được sử dụng để bảo quản và nâng cao giá trị dinh dưỡng của thân lá ngô, trong đó quá trình lên men lactic làm giảm pH, ức chế vi sinh vật gây hại và giữ lại chất dinh dưỡng.
Các khái niệm chính bao gồm:
- Protein phân giải ở dạ cỏ (RDP) và protein không bị phân giải (RUP)
- Axit béo bay hơi (AXBBH) và vai trò trong cung cấp năng lượng
- Quá trình lên men yếm khí và hiếu khí trong ủ chua
- Các nhóm vi sinh vật dạ cỏ và vai trò trong tiêu hóa xơ và protein
- Chất khô (CK), xơ không tan trong dung dịch axit (ADF), xơ không tan trong dung dịch trung tính (NDF)
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu chính là thân lá ngô thu hoạch ở thời điểm 110 ngày tuổi, được thu thập tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. Thân lá ngô được băm nhỏ (3-5 cm), ủ chua trong hố kín với bổ sung dung dịch rỉ mật đường (10 lít cho 1,5 m³ nguyên liệu) để kích thích lên men lactic. Thời gian ủ kéo dài 5-7 tuần. Thành phần hóa học của thân lá ngô tươi và ủ chua được phân tích gồm hàm lượng chất khô, protein thô, xơ thô, NDF, ADF và năng lượng trao đổi (ME).
Thí nghiệm nuôi bò thịt giai đoạn vỗ béo được tiến hành với cỡ mẫu khoảng 20 con bò lai Sind, chia thành các nhóm cho ăn khẩu phần có sử dụng thân lá ngô tươi và ủ chua. Các chỉ tiêu theo dõi gồm tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng (chất khô, protein, xơ), chỉ số sinh trưởng (tăng trọng tuyệt đối, tương đối), hiệu quả sử dụng thức ăn (tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng) và chi phí thức ăn. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có kiểm soát, phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê với mức ý nghĩa P<0,05. Thời gian nghiên cứu kéo dài 90 ngày, phù hợp với thời gian vỗ béo tiêu chuẩn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá ngô:
Thân lá ngô tươi có hàm lượng chất khô khoảng 25-26%, protein thô 7-8%, xơ thô 32%, NDF 68,7%, năng lượng trao đổi 7,46 MJ/kg CK. Sau khi ủ chua, hàm lượng protein thô tăng nhẹ lên khoảng 9%, xơ thô giảm còn 28%, NDF giảm còn 62%, đồng thời pH thức ăn ủ chua đạt 4,2, phù hợp cho bảo quản lâu dài. -
Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng:
Bò ăn khẩu phần có thân lá ngô ủ chua có tỷ lệ tiêu hóa chất khô đạt 65%, protein tiêu hóa 70%, xơ tiêu hóa 60%, cao hơn đáng kể so với nhóm ăn thân lá ngô tươi (tương ứng 58%, 62%, 52%). Sự cải thiện tiêu hóa này giúp tăng lượng dinh dưỡng hấp thu và hiệu quả sử dụng thức ăn. -
Chỉ tiêu sinh trưởng và hiệu quả vỗ béo:
Bò sử dụng thân lá ngô ủ chua tăng trọng tuyệt đối trung bình 850 g/con/ngày, trong khi nhóm dùng thân lá ngô tươi chỉ đạt 700 g/con/ngày. Tăng trọng tương đối đạt 1,2% so với 1,0%. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng giảm từ 7,5 kg xuống còn 6,8 kg, chi phí thức ăn giảm khoảng 10%. -
Chất lượng thức ăn ủ chua:
Thức ăn ủ chua có mùi thơm đặc trưng của axit lactic, màu sắc xanh tươi, độ cứng tương đương cỏ tươi, hàm lượng amoniac thấp (<0,05%), tỷ lệ axit lactic/axit axetic đạt 3,5, đảm bảo chất lượng tốt cho gia súc.
Thảo luận kết quả
Việc ủ chua thân lá ngô giúp giảm hàm lượng xơ không tiêu hóa, tăng protein thô và cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn, phù hợp với cơ chế tiêu hóa của gia súc nhai lại. Kết quả tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn nhóm dùng thân lá ngô tươi phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng phụ phẩm nông nghiệp ủ chua làm thức ăn cho bò thịt. Biểu đồ sinh trưởng tích lũy và biểu đồ tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng minh họa rõ sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm thí nghiệm.
Ngoài ra, việc sử dụng rỉ mật đường trong quá trình ủ chua tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lactic phát triển, giảm pH nhanh, hạn chế vi khuẩn gây hại như Clostridia, giúp bảo quản thức ăn lâu dài và giữ nguyên giá trị dinh dưỡng. Điều này góp phần giảm tổn thất thức ăn và chi phí sản xuất, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường do đốt bỏ phế liệu nông nghiệp.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Áp dụng kỹ thuật ủ chua thân lá ngô tại các trang trại và hộ chăn nuôi:
Khuyến khích sử dụng thân lá ngô ủ chua làm thức ăn bổ sung trong giai đoạn vỗ béo bò thịt, nhằm tăng hiệu quả sinh trưởng và giảm chi phí thức ăn. Thời gian ủ từ 5-7 tuần, bổ sung rỉ mật đường 10 lít cho 1,5 m³ nguyên liệu. Chủ thể thực hiện: người chăn nuôi, kỹ thuật viên nông nghiệp. -
Tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ thuật ủ chua và quản lý thức ăn:
Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ủ chua, bảo quản và sử dụng thức ăn ủ chua cho cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi tại các địa phương. Mục tiêu nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành trong vòng 12 tháng. -
Khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng các phụ phẩm nông nghiệp khác:
Mở rộng nghiên cứu sử dụng các loại phụ phẩm nông nghiệp khác như rơm, bã sắn, bã dứa ủ chua kết hợp bổ sung urê hoặc men vi sinh để nâng cao giá trị dinh dưỡng và hiệu quả chăn nuôi. Chủ thể: các viện nghiên cứu, trường đại học. -
Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi sử dụng thức ăn ủ chua:
Đề xuất các chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và thị trường cho người chăn nuôi áp dụng kỹ thuật ủ chua, góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi bò thịt. Thời gian thực hiện trong 2-3 năm tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Người chăn nuôi bò thịt:
Nắm bắt kỹ thuật ủ chua thân lá ngô để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có, giảm chi phí thức ăn và nâng cao hiệu quả vỗ béo. -
Cán bộ kỹ thuật và chuyên gia nông nghiệp:
Áp dụng kiến thức về tiêu hóa gia súc nhai lại và kỹ thuật ủ chua để tư vấn, hướng dẫn người dân và phát triển các mô hình chăn nuôi hiệu quả. -
Nhà nghiên cứu và sinh viên ngành chăn nuôi:
Tham khảo cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và kết quả thực nghiệm để phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan đến chế biến thức ăn và chăn nuôi bò thịt. -
Các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách:
Sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bền vững, giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Câu hỏi thường gặp
-
Ủ chua thân lá ngô có lợi ích gì so với phơi khô?
Ủ chua giúp bảo quản thức ăn lâu dài, giữ lại nhiều chất dinh dưỡng hơn, tăng khả năng tiêu hóa và giảm tổn thất do mưa ẩm, trong khi phơi khô dễ bị mất mát dinh dưỡng và phụ thuộc thời tiết. -
Thời gian ủ chua thân lá ngô bao lâu là hợp lý?
Thời gian ủ từ 5 đến 7 tuần là đủ để vi khuẩn lactic phát triển, giảm pH xuống mức 3,8-4,5, đảm bảo chất lượng thức ăn ủ chua tốt. -
Có cần bổ sung gì khi ủ chua thân lá ngô không?
Nên bổ sung dung dịch rỉ mật đường để cung cấp đường dễ lên men cho vi khuẩn lactic, giúp quá trình ủ chua diễn ra nhanh và hiệu quả hơn. -
Lượng thức ăn ủ chua nên cho bò ăn bao nhiêu?
Đối với bò thịt, lượng thức ăn ủ chua nên chiếm khoảng 5-10 kg/ngày, có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ thức ăn thô xanh trong khẩu phần. -
Ủ chua thân lá ngô có ảnh hưởng đến chất lượng thịt bò không?
Thức ăn ủ chua giúp tăng tỷ lệ tiêu hóa và tăng trọng, đồng thời không làm giảm chất lượng thịt mà còn có thể cải thiện hương vị nhờ các axit hữu cơ trong thức ăn.
Kết luận
- Thân lá ngô ủ chua có hàm lượng protein thô tăng, xơ giảm, pH đạt mức bảo quản tốt, phù hợp làm thức ăn cho bò thịt giai đoạn vỗ béo.
- Khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng của bò ăn thức ăn ủ chua cao hơn nhóm dùng thân lá ngô tươi, giúp tăng hiệu quả sử dụng thức ăn.
- Bò sử dụng thân lá ngô ủ chua tăng trọng trung bình 850 g/con/ngày, giảm tiêu tốn thức ăn và chi phí chăn nuôi.
- Kỹ thuật ủ chua thân lá ngô đơn giản, chi phí thấp, có thể áp dụng rộng rãi tại các trang trại và hộ chăn nuôi.
- Đề xuất triển khai đào tạo kỹ thuật, nghiên cứu mở rộng và xây dựng chính sách hỗ trợ nhằm phát triển bền vững ngành chăn nuôi bò thịt.
Các cơ sở chăn nuôi và cán bộ kỹ thuật nên áp dụng kỹ thuật ủ chua thân lá ngô ngay trong mùa vụ tới để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có, đồng thời phối hợp với các viện nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện và mở rộng ứng dụng.