Tổng quan nghiên cứu
Biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp và sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội trên quy mô toàn cầu và tại Việt Nam. Tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn – một địa bàn miền núi đặc thù có độ cao trung bình 600 m so với mực nước biển với tổng diện tích tự nhiên 678 km2, nông nghiệp giữ vai trò là trụ cột sinh kế chính của hơn 51.000 người dân, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới khoảng 95% dân số (chủ yếu gồm các dân tộc Tày, Dao, Mông, Nùng, Hoa). Riêng tại 3 xã nghiên cứu trọng điểm gồm Khang Ninh, Nam Mẫu và Quảng Khê, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt khoảng 2.068,7 ha. Tuy nhiên, tập quán canh tác tại đây phần lớn còn manh mún, nhỏ lẻ và phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, khiến tính dễ bị tổn thương trước các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, rét hại, sương muối, hạn hán và lũ quét ngày càng gia tăng.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp địa phương, đồng thời khảo sát, tổng hợp và đánh giá hệ thống kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc ứng phó với thiên tai. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện các biểu hiện khí hậu cực đoan, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tri thức địa phương của nông hộ, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thích ứng. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại 3 xã thuộc vùng đệm và vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, hoàn thiện luận văn năm 2019. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc chứng minh các mô hình canh tác dựa vào tri thức bản địa giúp gia tăng thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ hoạch định chính sách phát triển nông thôn bền vững cho vùng trung du miền núi phía Bắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên sự kết hợp giữa khung lý thuyết biến đổi khí hậu quốc tế và lý luận về tri thức sinh thái bản địa. Nghiên cứu vận dụng khung đánh giá khả năng thích ứng và tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007) cùng các nguyên tắc chỉ đạo trong Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC). Đồng thời, đề tài kế thừa lý thuyết tri thức bản địa của UNESCO và các công trình của tác giả Frederico Mayor (2003), xác định kiến thức bản địa là hệ thống kinh nghiệm thực tiễn được hình thành qua lịch sử lâu dài, lồng ghép sâu sắc vào văn hóa, tập quán và kỹ thuật ứng xử với môi trường tự nhiên của cộng đồng.
Bốn khái niệm then chốt được phân tích xuyên suốt bao gồm: Biến đổi khí hậu (sự thay đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ do tác động tự nhiên hoặc hoạt động nhân sinh làm biến đổi thành phần khí quyển); Thích ứng với biến đổi khí hậu (sự điều chỉnh của hệ sinh thái tự nhiên hoặc con người nhằm giảm nhẹ tổn thất và khai thác các cơ hội có lợi); Kiến thức bản địa hay tri thức bản địa (kho tàng hiểu biết, kỹ năng thực hành canh tác của người dân địa phương được lưu truyền qua các thế hệ); và Hệ thống nông nghiệp thích ứng dựa vào cộng đồng (phương thức tổ chức sản xuất khai thác tối đa nguồn lực nội sinh và giống cây trồng, vật nuôi bản địa để chống chịu rủi ro thiên tai).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp đồng bộ hai nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ chuỗi số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 2013 - 2017 của Trạm Khí tượng Thủy văn Ba Bể, các báo cáo tổng kết nông nghiệp của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Bể, Niên giám thống kê huyện và các đề án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Quyết định số 270/QĐ-BNN-KHCN). Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu cán bộ khuyến nông, lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã và thảo luận nhóm tập trung với các già làng, trưởng bản am hiểu tập quán canh tác.
Cỡ mẫu khảo sát gồm 120 hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 3 xã (Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê). Tiêu chí phân tầng căn cứ vào thành phần dân tộc (Tày, Dao, Mông), vị trí địa lý sinh thái (vùng lõi, vùng đệm) và điều kiện kinh tế hộ nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Luận văn áp dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh kinh tế (đánh giá doanh thu, chi phí, lợi nhuận giữa hộ áp dụng và không áp dụng kiến thức bản địa) và tổng hợp định tính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình canh tác, đồng thời ghi nhận đầy đủ các giá trị tri thức phi vật thể của đồng bào. Toàn bộ quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian từ tháng 1 năm 2017 đến cuối năm 2018.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, diễn biến thời tiết tại địa bàn Ba Bể trong giai đoạn 2013 - 2017 thể hiện tính bất thường rõ rệt. Nền nhiệt độ trung bình năm có chiều hướng gia tăng, số ngày xuất hiện nắng nóng gay gắt và các đợt rét đậm, rét hại kéo dài nhiều hơn. Lượng mưa hàng năm phân bố rất chênh lệch: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm từ 70% đến 80% tổng lượng mưa cả năm, gây ra hiện tượng xói mòn, sạt lở đất dốc; trong khi mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm từ 20% đến 25% tổng lượng mưa, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nước tưới nghiêm trọng cho hơn 65% diện tích cây trồng ngắn ngày.
Thứ hai, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến năng suất nông nghiệp ở mức đáng báo động. Hơn 85% số hộ điều tra xác nhận năng suất lúa và ngô suy giảm rõ rệt do các đợt hạn hán đầu vụ và sương muối cuối năm. Môi trường nhiệt ẩm biến động đã tạo điều kiện cho các loại sâu bệnh mới bùng phát; tần suất xuất hiện sâu cuốn lá, rầy nâu hại lúa và bệnh đốm lá lớn hại ngô tăng từ 2 đến 3 lần mỗi vụ so với giai đoạn trước, làm gia tăng chi phí mua thuốc bảo vệ thực vật.
Thứ ba, người dân địa phương sở hữu kho tàng kinh nghiệm dự báo khí hậu dân gian phong phú và có độ chính xác cao. Khoảng 92% số hộ dân duy trì thói quen quan sát tập tính của động vật (như hướng di chuyển làm tổ của kiến, tầm bay của chuồn chuồn, tiếng kêu của ếch nhái), quy luật nở hoa của thực vật rừng và sự biến đổi sắc mây, hướng gió để dự đoán sớm các đợt mưa bão, lũ quét hoặc rét hại nhằm chủ động điều chỉnh lịch thời vụ.
Thứ tư, các mô hình canh tác vận dụng giống bản địa và kỹ thuật xen canh đem lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Cụ thể, mô hình trồng gừng và cây dược liệu xen chuối tây trên đất dốc, mô hình đỗ xanh chịu hạn và khoai tây thích ứng rét vụ đông giúp tăng thêm thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm. So sánh trên đơn vị diện tích nhỏ, các hộ áp dụng mô hình thích ứng thu về lợi nhuận ròng cao hơn từ 4 đến 5 triệu đồng trên mỗi 1.000 m2 so với phương thức độc canh ngô truyền thống.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính giúp các biện pháp dựa vào kiến thức bản địa phát huy hiệu quả là tính tương thích sinh thái bền vững. Kỹ thuật canh tác đa tầng kết hợp chuối tây với gừng và dược liệu tạo nên thảm thực vật che phủ dày, giúp giảm từ 40% đến 50% lượng bốc hơi nước mặt trong mùa khô, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng rửa trôi lớp đất mặt màu mỡ trong mùa mưa lũ. Hơn nữa, các giống lúa nếp nương, ngô địa phương và đỗ xanh bản địa đã qua tuyển chọn tự nhiên hàng trăm năm nên có khả năng kháng sâu bệnh tốt, đòi hỏi ít phân bón hóa học, giúp giảm 30% chi phí đầu vào cho người nông dân nghèo.
Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua các bảng biểu so sánh chi tiết về cơ cấu chi phí - lợi nhuận giữa hai nhóm hộ canh tác, hoặc biểu đồ cột phản ánh tỷ lệ hộ áp dụng từng loại hình tri thức bản địa theo từng nhóm dân tộc (Tày, Dao, Mông). Biểu đồ đường cũng có thể được sử dụng để mô tả tương quan nghịch biến giữa tần suất xuất hiện các đợt rét đậm với sản lượng gia súc, hoa màu của địa phương.
So sánh với các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông Lâm nghiệp miền núi (ADC, 2013, 2014) và các nghiên cứu quốc tế, kết quả tại Ba Bể khẳng định tri thức bản địa là một thành tố chiến lược trong thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng (CBA). Đóng góp học thuật cốt lõi của luận văn là chứng minh bằng số liệu thực chứng rằng: tri thức bản địa không hề mang tính thụ động hay bảo thủ, mà là một phương thức quản trị rủi ro linh hoạt, tiết kiệm chi phí và đặc biệt phù hợp với các cộng đồng thiểu số vùng cao có nguồn lực tài chính hạn chế.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát huy và nhân rộng giá trị của kiến thức bản địa trong thích ứng với biến đổi khí hậu, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:
Thứ nhất, chuẩn hóa và số hóa kho tàng tri thức bản địa: Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể chủ trì, phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng chính quyền 3 xã Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê tiến hành điều tra, lập danh mục và xuất bản cẩm nang hướng dẫn các kinh nghiệm dân gian trong dự báo thời tiết, phòng trừ sâu bệnh sinh học. Mục tiêu số hóa 100% các tư liệu tri thức bản địa tiêu biểu của địa phương trước năm 2025.
Thứ hai, quy hoạch vùng sản xuất và mở rộng các mô hình canh tác thích ứng: Trạm Khuyến nông huyện chủ động xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích mô hình trồng xen gừng - chuối tây, đỗ xanh chịu hạn và khoai tây vụ đông trên quy mô 300 ha đất dốc thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể trong giai đoạn 2020 - 2025, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của nông hộ tham gia thêm ít nhất 25% mỗi năm.
Thứ ba, đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi nhỏ và công trình điều tiết nước phân tán: Ủy ban nhân dân các xã phối hợp với các hợp tác xã nông nghiệp huy động nguồn vốn công ích kiên cố hóa hệ thống mương dẫn nước tự chảy, xây dựng 20 đến 30 bể chứa nước mưa dung tích lớn tại các sườn đồi, bảo đảm cấp nước tưới tiêu chủ động cho trên 80% diện tích đất canh tác trong mùa khô hạn.
Thứ tư, tích hợp chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật với tri thức địa phương: Viện Khoa học Nông nghiệp phối hợp với các trạm bảo vệ thực vật tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật phục tráng giống cây trồng đặc sản bản địa; hướng dẫn người dân kết hợp kinh nghiệm ủ phân hữu cơ truyền thống với các chế phẩm sinh học hiện đại, nhằm cắt giảm tối thiểu 35% lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trên đồng ruộng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu chuyên khảo mang tính ứng dụng cao, hữu ích đối với bốn nhóm đối tượng chính sau:
Một là, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nông nghiệp: Đội ngũ cán bộ tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Ba Bể có thể tham khảo khung phân tích và các khuyến nghị chính sách để lồng ghép nội dung thích ứng biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp cơ sở.
Hai là, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học: Các chuyên gia thuộc khối ngành Phát triển nông thôn, Biến đổi khí hậu, Khuyến nông và Nhân học sinh thái có thể khai thác phương pháp chọn mẫu phân tầng, quy trình xử lý dữ liệu và hệ thống số liệu khảo sát thực chứng làm tài liệu giảng dạy hoặc phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.
Ba là, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển quốc tế: Các điều phối viên dự án trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nghèo và nông nghiệp bền vững có thể sử dụng các mô hình xen canh đất dốc trong luận văn để thiết kế các can thiệp sinh kế phù hợp cho cộng đồng dân tộc thiểu số.
Bốn là, ban giám đốc hợp tác xã nông nghiệp và hộ nông dân vùng cao: Cán bộ quản lý hợp tác xã và người dân tại các vùng có điều kiện sinh thái tương đồng có thể áp dụng trực tiếp các quy trình kỹ thuật luân canh, cách thức chọn giống bản địa chống chịu tốt để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trên diện tích đất canh tác của mình.
Câu hỏi thường gặp
1. Biến đổi khí hậu gây ra những tác động tiêu cực rõ rệt nhất nào đối với sản xuất nông nghiệp tại huyện Ba Bể? Tại huyện Ba Bể, biến đổi khí hậu thể hiện rõ qua sự gia tăng nhiệt độ trung bình, các đợt rét đậm rét hại kéo dài và phân bố mưa bất thường (70% đến 80% lượng mưa tập trung vào mùa mưa). Hiện tượng này gây ra lũ quét, sạt lở đất dốc trong mùa mưa, đồng thời làm cạn kiệt nguồn nước tưới trong mùa khô, khiến sâu bệnh hại bùng phát trên diện rộng.
2. Đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã nghiên cứu sử dụng những dấu hiệu nào để dự báo thời tiết? Người dân quan sát hành vi của côn trùng (như kiến đắp tổ cao báo hiệu mưa lớn, chuồn chuồn bay thấp), tiếng kêu của động vật, thời điểm ra hoa của cây rừng cùng màu sắc mây và hướng gió mùa. Những tri thức truyền miệng này giúp nông hộ chủ động gieo mạ đúng thời vụ, che chắn gia súc và giảm thiểu thiệt hại mùa màng do thiên tai.
3. Các mô hình canh tác bản địa nào mang lại giá trị kinh tế cao nhất trong nghiên cứu? Nghiên cứu xác nhận mô hình trồng gừng xen chuối tây trên đất dốc và luân canh giống đỗ xanh chịu hạn đem lại hiệu quả vượt trội. Các mô hình này giúp tăng thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm, tạo ra mức lợi nhuận ròng tăng thêm từ 4 đến 5 triệu đồng trên mỗi 1.000 m2 so với phương thức độc canh ngô hay sắn truyền thống.
4. Tại sao cần kết hợp kiến thức bản địa với tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại? Tri thức bản địa có ưu thế về độ thích nghi sinh thái địa phương nhưng mang tính kinh nghiệm và thiếu sự chuẩn hóa đo lường. Việc tích hợp các kỹ thuật sinh học hiện đại như phương pháp phục tráng giống, xử lý vi sinh sẽ giúp nâng cao năng suất, kiểm soát dịch hại toàn diện và đưa nông sản bản địa đạt tiêu chuẩn hàng hóa cao hơn.
5. Phương pháp chọn mẫu trong luận văn đảm bảo độ tin cậy khoa học như thế nào? Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu 120 hộ tại 3 xã đại diện (Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê). Mẫu điều tra bao phủ đầy đủ các nhóm dân tộc thiểu số chính (Tày, Dao, Mông) và đại diện cho cả vùng lõi lẫn vùng đệm sinh thái, bảo đảm phản ánh khách quan và toàn diện thực trạng sản xuất nông nghiệp.
Kết luận
- Thực trạng tác động: Biến đổi khí hậu làm gia tăng nhiệt độ, gây mất cân đối lượng mưa và bùng phát dịch bệnh, đe dọa trực tiếp đến an ninh sinh kế của người dân huyện Ba Bể.
- Giá trị tri thức bản địa: Hệ thống kinh nghiệm dân gian trong dự báo thời tiết và các giống cây trồng, vật nuôi bản địa là tài sản vô giá giúp cộng đồng thích ứng linh hoạt trước thiên tai.
- Hiệu quả sinh kế thực chứng: Các mô hình nông nghiệp thích ứng đa tầng giúp nâng cao thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm, minh chứng cho tính khả thi kinh tế của tri thức địa phương.
- Đóng góp lý luận và chính sách: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc khẳng định vai trò trụ cột của tri thức bản địa trong chiến lược thích ứng khí hậu dựa vào cộng đồng tại miền núi phía Bắc.
- Kế hoạch hành động tiếp theo: Các cấp chính quyền và tổ chức phát triển cần khẩn trương số hóa kho tàng tri thức bản địa, mở rộng các mô hình xen canh trong giai đoạn 2020 - 2025; kính mời quý độc giả, nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác và nhân rộng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp sinh thái bền vững.