CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ STRESS VÀ STRESS Ở GIÁO VIÊN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở giáo viên trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới * Nghiên cứu dưới góc độ y sinh học: Hướng nghiên cứu này thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học.
Trong lĩnh vực y học hiện đại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối liên quan giữa stress và bệnh tật con người. Tác giả Claude Bernard (1850) đã cho rằng “Những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó”. Theo ông, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắp đặt và làm hài hòa hoạt động các yếu tố của cơ thể và chỉ có con người mới có hệ thần kinh đủ khả năng điều tiết làm cho cơ thể lấy lại cân bằng. Phát hiện của Claude Bernard khai phá lịch sử nghiên cứu hiện đại về khả năng tự điều chỉnh để thích nghi của cơ thể con người.
Walter Cannon nhà sinh lý học người Mỹ lần đầu tiên đã mô tả một cách khoa học về phản ứng của con người và con vật trước các tình huống nguy hiểm trong tác phẩm nổi tiếng “Sự khôn ngoan của cơ thể” (Xuất bản tại New York năm 1933) ông gọi đáp ứng này của cơ thể với stress là đáp ứng kép “chống trả hoặc bỏ chạy” (fight or flight), ông đề xuất thuật ngữ “Homeostasie” nghĩa là “Cân bằng nội môi” để mô tả những trạng thái phức hợp cân bằng sinh lý mà ông nhận thấy chủ yếu khi thay đổi nồng độ các chất có trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ,. Trên cơ sở sự điều tiết của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận (catecholamine gồm hai chất adrenalin do lõi thượng thận và noadrenalin do thần kinh thực vật tiết ra), phản ứng này là phản ứng cấp thời.Plavov (1932) cũng đã nêu ra đặc tính chung của khái niệm này: “. Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh, là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tự hiểu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí tự hoàn thiện bản thân”. Năm 1935 ông đi sâu nghiên cứu sự cân bằng nội môi ở những động vật có vú khi chúng lâm vào các tình huống khó khăn, như khi gặp phải sự thay đổi về nhiệt độ.
Ông cũng mô tả các nhân tố cảm xúc trong quá trình phát sinh, 8 phát triển một số bệnh và xác định vai trò của hệ thần kinh khi cơ thể đối phó với các tình huống khẩn cấp. Năm 1936 một nhà khoa học khác đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu stress dựa trên những phát hiện của W.B Cannon và kế thừa những nhiên cứu của Claude Bernard, đó là Hans Selye tiến sỹ y khoa người Canada gốc Áo. Ông mô tả stress theo thuật ngữ “Hội chứng thích nghi chung”ông nhận thấy bên cạnh những phản ứng đặc trưng do các yếu tố bất lợi khác nhau gây ra, cơ thể luôn có những phản ứng chung nhất. Phản ứng chung, không đặc hiệu của cơ thể được gọi bằng thuật ngữ “stress”).
Thuật ngữ này lúc đầu thiên về bệnh học, nên dùng là “hội chứng”, sau đó nó được hiệu là “Hội chứng thích nghi chung” (General adaptation syndrome) và thường được viết tắc là G.S, hiểu là phản ứng nhằm giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Đâu là quá trình diễn ra qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: Báo động, thích nghi, và suy kiệt. Năm 1956 thuật ngữ “Stress” được biết đến một cách rộng rãi khi ông cho xuất bản cuốn sách “The stress of life”. Hans Selye đã đóng góp ba thuật ngữ quan trọng đó là stress tích cực, trung tính và có hại.
Ông cho rằng không phải tất cả các stress đều có hại. V Parin đã đưa nhận xét “Khái niệm stress của H. Selye đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh. Quan điểm của ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối bấy giờ đã nhận được sự phổ biến rộng khắp.
Nói một cách tổng quát, học thuyết của nhà bác học Canada nổi tiếng H. Selye có thể coi là hệ thống luận điểm cơ bản, nền móng cho sự phát triển của khoa học, y học hiện đại". Học thuyết của H. Selye đã thu hút nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau vào nghiên cứu stress.
Các biểu hiện tâm lý của “hội chứng” mà H. Selye mô tả được đặt tên là “stress cảm xúc”. Thuật ngữ được làm sáng rõ, nên dẫn đến hai hướng nghiên cứu cơ bản kết hợp: Một là, nghiên cứu stress dưới góc độ y sinh học. Hai là, nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học.
Sự điều tiết phó giao cảm vượt trội làm giảm sút khả năng thích nghi. Rôgiođêxtovenxcaia (1980) với cộng sự qua thực nghiệm đã nhận xét rằng: khả năng 9 làm việc giảm sút khi có stress do mệt mỏi này sinh ở những người có hệ thần kinh yếu sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh. Nhưng tác giả cũng cho rằng, khả năng làm việc khi có stress không phụ thuộc một cách tuyệt đối vào độ mạnh của hệ thần kinh. Những người có hệ thần kinh mạnh có thể bị stress mạnh hơn, trong những trường hợp tác nhân gây stress là những tín hiệu đơn điệu và kéo dài.
Nhưng ở những người hệ thần kinh yếu bị stress do các tác động đơn điệu kéo dài lại có xác suất nhỏ hơn.Meclin (1981) đã nhận xét rằng những người có hệ thần kinh yếu có độ nhạy cảm tri giác lớn hơn những người có hệ thần kinh mạnh. Điều đó cho phép ông chỉ ra những khác biệt của stress ở từng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh, yếu của các quá trình thần kinh, mà còn phụ thuộc vào một loạt thuộc tính khác của hệ thần kinh và của các quá trình tâm lý. Myers, (1968) cùng nhiều tác giác khác đi tìm sự liên quan giữa điện não đồ với stress và đã phát hiện có nhiều cơ chế thay đổi hoạt tính điện nhịp của não ở những giai đoạn khác nhau của stress, cũng như có sự thay đổi khác nhau của điện não đồ của từng cá nhân trong những điều kiện gây stress.Raykôvski (1979) cùng một loạt các tác giả khác đã chỉ ra mối tương quan giữa các thông số sinh lý (điện não đồ, điện tâm đồ, phản ứng điện da, hàm lượng catecholamine, coricosteroit trong máu và trong nước tiểu), các thông số biểu thị các quá trình tâm lý và các phản ứng cảm xúc. Trên cơ sở các mối tương quan ấy người ta đưa ra các thông số tổng hợp biểu thị những đặc điểm và độ sâu của trạng thái stress của con người.Kôrôlenkô (1978) cho rằng nghiên cứu stresss lâu dài cho thấy chủ yếu không phải là mức độ thích nghi sinh lý, mà là mức độ thích nghi tâm lý mới là thông số nhạy nhất, biểu thị trạng thái thể chất và trạng thái tinh thần của con người.
Chúng tôi cho rằng đây là nhận định rất quan trọng nói lên vai trò của yếu tố tâm lý trong các tình huống xuất hiện nhân tố gây stress. Những công trình rộng lớn nghiên cứu các thông số sinh hóa của stress được tiến hành trong phòng thực nghiệm của M. Phrankenhoide đã đi đến kết luận rằng: Hiệu quả của các yếu tố tâm lý xã hội gây ra ở hệ thống giao cảm là do sự đánh giá của con người về sự cân đối giữa một bên là độ gay gắt của tình huống stress và bên kia là khả năng của từng người đối phó với các nhân tố gây stress. Ferreri 10 trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý y học thuộc viên Saint Antoine, (Pari, Pháp), (2004) với tác phẩm “Stress từ bệnh và biểu hiện lâm sàng của các rối loạn do stress” là rất đa dạng và phức tạp.
Tác phẩm đã trình bày một cách nhanh gọn và rõ ràng các phản ứng thích nghi bình thường, phản ứng thích nghi bệnh lý, sự tham gia của nhân cách, môi trường và nghề nghiệp vào phản ứng stress. Các phản ứng thần kinh thể dịch và các biểu hiện rối loạn do stress. Những nghiên cứu trên chứng tỏ rằng những biểu hiện tâm lý của stress được phản ánh trong những thay đổi của các chức năng sinh lý là tất yếu, vì các chức năng sinh lý là cơ sở của các chức năng tâm lý. Sự tồn tại của mối tương quan đó cho phép sử dụng các thông số của sự thay đổi (có tính chất stress) của các chức năng sinh lý làm thông số cho stress tâm lý.
Đồng thời mối tương quan này hoàn toàn không phải là trọn vẹn và không phải với tất cả mọi biểu hiện tâm lý của stress đều có thể tìm thấy những thay đổi sinh lý liên quan với chúng. * Nghiên cứu stress dưới góc độ tâm lý học Những tài liệu nghiên cứu về stress được công bố trước đây phần lớn thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học. Mặc dù vấn đề tâm lý có được đề cập trong quá trình nghiên cứu về stress, tuy nhiên mãi đến giữa thế kỉ XX, những tư tưởng này mới được phát triển mạnh mẽ.Dodson là hai nhà khoa học Mỹ, năm 1908 qua thực nghiệm đã chỉ ra rằng sự tăng cường độ làm việc của hệ thần kinh đến mức độ nhất định thì hiệu quả hoạt động tăng lên. Song nếu hệ thần kinh tiếp tục hoạt động tăng lên thì các thông số của hoạt động lao động hạ thấp, nhất là đối với hoạt động phức tạp.
Đây là một kết luận quan trọng gúp cho các nhà quản lý có biện pháp tác động đúng mức nhằm tăng năng suất lao động cho công nhân và lập kế hoạch hoạt động của họ cho phù hợp. Nhà phân tâm học S. Freud cho rằng các rối loạn cơ thể chỉ là sự thể hiện biểu trưng (symbol) của những xung đột nội tâm bị đè nén, ức chế. Freud 1910) đã cự tuyệt việc tuyệt đối hóa vai trò ưu thế của tâm lý đối với cơ thể song điều này đã không ngăn cản được nhiều tác giả khác lí giải bệnh cơ thể theo Phân tâm.
Họ cho rằng cũng như rối loạn tâm căn, tất cả các triệu chứng cơ thể chỉ là phương thức dung hòa để giải tỏa năng lượng Libido.