MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nói đến hoa là chúng ta nghĩ đến một cái gì đó đẹp đẽ, thuần thiết. Từ xa xưa, hoa đã gắn bó với đời sống con con người. Trên thế giới, mỗi loài hoa lại mang một bản sắc riêng đặt trưng cho một đân tộc: hoa tulip gắn liền với Hà Lan, hoa anh đào gắn liền với đất nước Nhật Bản, hoa hồng gắn liền với đất nước Pháp, hoa phong lan gắn liền với đất nước hà lan.
Mỗi một loài hoa ẩn chưa một vẻ đẹp, sức quyến rũ riêng: Hoa đồng tiền tượng trưng cho hạnh phúc, nó mang lại ý nghĩa về vẻ đẹp, sự kỳ diệu và sự tươi sáng vui vẻ. Hoa đồng tiền có hàng trăm giống khác nhau với nhiều màu sắc: Trăng, Vàng, Hồng, Đỏ. và có thể nở hoa quanh năm. Ở nước ta, nghề trồng hoa đã có từ lâu đời, chơi hoa và tặng hoa là nét đẹp truyền thống văn hoa, thú chơi tao nhã của người dân Việt Nam.
Từ xưa, những loại hoa truyền thống như: đào, mai, cúc, huệ. đã được đân ta trồng rộng rãi,phổ biến nhưng chủ yếu là tự cung tự cấp. Ngày nay, khi nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức hoa của con người ngày càng được nâng cao.nghề trồng hoa trở thành ngành sảng xuất hàng hóa mang lại nhiều lợi nhuận. Hiện nay, nhiều vùng hoa chuyển canh, tập trung ở các địa phương trong cả nước như: Đà lạt (Lâm Đồng) Sa Pa (Lào Cai), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Tây Tựu (Hà Nội).các vùng này tập trung sản xuất các loại hoa truyền thống có sức mua cao: hồng, cúc, lay ơn, đồng tiền.
trong đó, hoa đồng tiền luôn giữ vai trò quan trọng chiếm khoảng 9% trong cơ cấu chủng loại hoa của việt nam. h 3 Hoa đồng tiền được coi là một trong những loại hoa thương mại quan trọng cho giá trị kinh tế cao, được nhiều địa phương quan tâm phát triển. Hoa đồng tiền có ưu điểm dễ trồng, dễ nhân giống, hoa bền, màu sắc phong phú, thuận lợi cho đầu tư khoa học công nghệ, sảng xuất với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Đặc biệt, hoa đồng tiền có nguồn gốc nhiệt đới nên ưu điểm nổi trội so với các loại hoa khác như: hồng, cúc, lily.
là ra hoa và vẫn đảm bảo chất lượng hoa cao vào mùa hè, đây là thời điểm miền bắc khan hiếm hoa nhất trong năm. Trong kỹ thuật trồng trọt cây hoa nói trung và cây đồng tiền nói riêng thobệnh, cho năng suất chất lượng hoa cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của vung, mặt khác, xuất phát từ thực tế nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường luôn đòi hỏi có nhiều giống hoa mới lạ,màu sắc đa dạng phong phú. Những năm gần đây, nước ta đã nhập nội một số giống đồng tiền có nguồn gốc từ Hà Lan, Trung Quốc, Đài Loan.về trồng mà không qua khảo nghiệm đánh giá một các hệ thống cho nên năng suất, phẩm chất hoa chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng. Do vậy công tác khảo nghiệm nhằm, tuyển chọn giống hoa tốt phù hợp với điều kiện trồng trọt riềng của thái nguyên có ý nghĩa rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người đân.
Xuất phát từ thực tiễn trên đó, cùng với thực hiện các công việc tại mô hình em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống hoa đồng tiền tại mô hình Tùng Mến, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định được một số giống hoa đồng tiền có năng suất cao, chất lượng tốt, mầu sắc đẹp phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên. Yêu cầu • Đánh giá được các đặc điểm thực vật học của các giống hoa đồng tiền nghiên cứu • Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa đồng tiền nghiên cứu • Đánh giá năng suất, của các giống hoa đồng tiền nghiên cứu 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến thức lý thuyết đã học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học có giá trị, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa đồng tiền trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn Bổ sung một số giống có triển vọng vào tập đoàn hoa đồng tiền phục vụ sản xuất hoa tại Thái Nguyên h 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa trên thế giới Theo Hoàng Ngọc Thuận [11], sản xuất hoa cắt và trồng chậu đang nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới, theo thống kê mới đây có 145 quốc gia trồng hoa trên toàn thế giới. Diện tích hoa cắt cành và giá trị sản lượng trên thế giới đang tăng nhanh, dựa trên 17 nước sản xuất hoa quan trọng nhất với diện tích ước lượng hiện nay vào khoảng 60000 ha. Trên bình diện quốc tế, việc tiêu thụ hoa cắt cành tập trung vào 3 khu vực chủ yếu là Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản.
Lượng tiêu thụ hoa cắt cành tăng rất nhanh, năm 1995 lượng tiêu thụ là 31 tỷ đôla. Do sự tiến bộ của việc sản xuất và sự nhập khẩu và kinh tế tăng trưởng mạnh dự kiến thị trường tiêu thụ hoa cắt trên thế giới vào khoảng 80 tỉ đôla năm 2005. Bên cạnh đó, lượng tiêu thụ hoa trồng chậu cũng không ngừng gia tăng. Tổng lượng tiêu thụ năm 1990 khoảng 14,2 tỉ đôla, năm 2005 khoảng 25- 30 tỉ đôla.
Sự phát triển trong lĩnh vực này cũng có nhiều hứa hẹn, do mức thu nhập và nhu cầu tiêu thụ ở nhiều khu vực trên thế giới tăng nhanh. Mỹ chiếm khoảng 30% tổng lượng tiêu thụ trên thế giới, Đức là nước tiêu thụ nhiều thứ 2 khoảng 20%, tiếp theo là Italia, Pháp. Theo Hoàng Ngọc Thuận [11], khu vực Tây Âu có tổng diện tích trồng hoa khoảng 41500 ha, trong đó diện tích có mái che là 18700 ha. Gồm các nước có diện tích trồng hoa xếp theo thứ tư giảm dần là Hà Lan, Italia, Đức, Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ, Hy Lạp, Đan Mạch… Diện tích trồng hoa và lá trang trí của Mỹ và Châu Mỹ Latinh khoảng 36000 ha, trong đó có khoảng 4600 ha trồng trong nhà có mái che.
Gồm các nước: Mỹ, Mexico, Columbia, Costa Rica, Ecuador, Cộng hòa Dominic, Peru. h 6 Tất cả hoa tươi cắt cành ở Mỹ được sản xuất quanh năm trong nhà có mái che, ở đó môi trường được quản lý rất cẩn thận. Châu Mỹ Latinh có tổng lượng sản xuất tăng nhanh, do những thuận lợi của thời tiết khí hậu, đầu tư của nước ngoài về tài chính và kiến thức. Bắc Mỹ cung cấp khoảng 90% thị trường nội địa.
Tổng giá trị sản lượng vào khoảng 11 tỉ đôla năm 1996. Columbia có khoảng 4000 ha hoa. Đất nước này có vị trí rất đặc biệt, có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sản xuất hoa. Nhưng do chi phí sản xuất tăng cao, chất lượng sản phẩm và nhận thức kém trong vấn đề bảo vệ môi trường nên vị trí này đang chịu nhiều áp lực.
Châu Phi ngành trồng hoa đang gặp phải những áp lực, do phải đối đầu với sự cạnh tranh của những nhà làm vườn chuyên nghiệp trên thế giới và luật môi trường trong nước. Tổng diện tích trồng hoa ở Châu Phi là 1262 ha, tổng sản lượng gần 3500 tấn, gồm các nước: Kenya, Zimbabuwe, Ivory Coast, Moroco. Những nước khác có tiềm năng trên thị trường là Tanzania, Uganda, Nam Phi, Zambia, Malawi, Ethiopia. [17] Theo Nguyễn Xuân Linh [7], Châu Á là trung tâm sản xuất hoa lớn trên thế giới.
Gồm các nước Nhật Bản, Israel, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam. Tổng diện tích trồng hoa khoảng 155000 ha, diện tích có mái che khoảng 8000 ha được trồng trong nhà kính hoặc nilon, hoặc các loại che chắn khác. Một số nước đã xuất khẩu hoa sang Châu Âu và các nước lân cận như: Thái Lan, Israel, Trung Quốc, Nhật Bản… tuy nhiên số lượng hoa xuất khẩu còn rất khiêm tốn. Theo Nico de Groot [18] sản xuất hoa cũng đang tăng ở các nước phát triển.
Hiện nay, Trung Quốc có khoảng hơn 60000 ha, trong thời gian 3 năm số lượng hoa cắt tăng từ 100 triệu cành lên tới 400 triệu cành, chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa. Thái Lan hơn 7000 ha sản xuất hoa cắt cành. Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa ở Việt Nam Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi để trồng được nhiều loại hoa, trồng quanh năm với nhiều chủng loại phong phú. Tại một số vùng hoa là cây trồng cho thu nhập khá.
Có vùng ở Hà Nội, so với sản xuất 2 lúa 1 màu trong cùng một thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tích thì trồng hoa có lợi nhuận cao hơn gấp 12 lần. Do vậy sản xuất hoa đã phát triển mạnh mẽ. Năm 2010 cả nước có 5700 ha hoa, tập trung ở Hà Nội (1500 ha), Lâm Đồng (1400 ha), Hải Phòng (730 ha). Diện tích trồng hoa lớn như vậy đã đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là các thành phố lớn.
Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn đã ở mức hơn 1 triệu cành hoa các loại trong một ngày. Có gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt Nam (hoa sen, hoa nhài và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong mùa Đông (hồng, cúc…). Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có 9430ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng. Tại miền Bắc, Hà Nội là vùng trồng hoa lớn nhất, trong đó có Từ Liêm có diện tích 500 ha, chủ yếu là hoa cúc, hoa đồng tiền, hoa hồng, hoa lily.
Ngoài ra còn có một số tỉnh ngoại thành cũng có số lượng lớn như Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình… Tại các tỉnh phía Nam, chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh với diện tích hoa - cây cảnh là 668 ha, tập trung ở 8 quận, nhiều nhất là Củ Chi 131 ha có 1400 hộ sản xuất hoa - cây cảnh.