Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh khổng lồ của nhân loại. Rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Rừng không chỉ là nơi cung cấp thức ăn, vật liệu xây dựng, thuốc chữa bệnh, tham gia vào quá trình giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gen động, thực vật, bảo vệ đa dạng sinh học mà còn là nơi học tập, nghỉ mát, tham quan du lịch do đó rừng đóng góp vai trò rất quan trọng và góp phần đáng kể vào nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, rừng còn giữ vai trò rất quan trọng trong việc tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và góp phần làm giảm đáng kể sự biến đổi khí hậu toàn cầu… Rừng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, điều đó được khẳng định trong nhiều Công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã ký kết như CITES - 1973, RAMSA - 1998, UNCED - 1992, CBD - 1994, UNFCCC - 1994, UNCCD - 1998.
Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích tự nhiên của đất nước, đó là một trong những nguồn tái nguyên quan trọng và là cơ hội tạo việc làm cho nhiều người thuộc dân tộc khác nhau. Nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phục hồi và phát triển rừng, trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực hiện nhiều chương trình, dự án, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phát triển lâm nghiệp đã h 2 được quan tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Tính đến ngày 31/12/2010 Việt Nam có 13.075 ha đất có rừng, nhiều hơn so với năm 2008 là 269.302 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.816 ha, rừng trồng là 3. Độ che phủ toàn quốc năm 2010 là 39,5%, tăng 0,8% so với năm 2008 (Theo Quyết định số 1267 QĐ-BNN-KL ngày 08/5/2009 và Quyết định số 1828/QĐ- BNN-TCLN ngày 11/8/2011 của Bộ Nông Nghiệp&PTNT về công bố hiện trạng rừng toàn quốc).
Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác trồng rừng trong những năm qua rất được quan tâm; diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể. Đến hết năm 2012 toàn tỉnh đã có 178.815,22 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 95.076,65 ha, rừng trồng 83.738,57 ha (Theo Quyết định số 646/QĐ-UBND ngày 05/4/2013 của UBND tỉnh Thái Nguyên); Tổng trữ lượng gỗ trên 3,5 triệu m3 và có khoảng 25 triệu cây tre nứa. Tuy diện tích rừng và độ che phủ rừng của nước ta đã tăng lên đáng kể nhưng năng xuất và chất lượng rừng vẫn còn thấp. Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay.
Do nhu cầu sử dụng gỗ, các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người ngày càng tăng, và nguồn nguyên liệu từ gỗ để cung cấp cho các nhà máy chế biến cũng không thể thiếu. Từ gỗ, người ta có thể tạo ra nhiều sản phẩm và vật dụng phục vụ cho sinh hoạt của con người nhờ những công nghệ hiện đại mới hiện nay. Chính vì những nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ mà các nhà lâm nghiệp vẫn hàng ngày nghiên cứu để tạo ra những giống cây có năng suất và chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu trên. Để tăng tỷ lệ đất trống đồi núi trọc, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân sống ở miền núi, đặc biệt là đồng bào sống trong và gần rừng h 3 đồng thời đáp ứng được nhu cầu về gỗ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, thì việc trồng rừng bằng các loài cây có giá trị kinh tế cao là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Cây Lim xanh (Erythrophleum Fordii Oliver) là cây gỗ có giá trị cao và là một trong bốn loại gỗ tứ thiết của Việt Nam. Cây Lim xanh nằm trong sách đỏ của Việt Nam là nhóm gỗ thuộc nhóm IIA, nhóm gỗ nguy cấp cấm khai thác ở Việt Nam. Gỗ Lim Xanh được người tiêu dùng rất được ưa chuộng, chúng thường dùng để làm cột, kèo, xà… và các bộ phận cấu trúc trong các công trình xây cất theo lối cổ. Ngoài ra, Lim còn được chuộng để làm các đồ gia dụng trong nhà như cửa gỗ, giường, phản… Cây có đặc tính rất quý nữa là không bị cong vênh, nứt nẻ, biến dạng do thời tiết nên rất được ưa chuộng nổi tiếng từ xưa đến nay cũng không mất đi giá trị.
Nhưng việc khai thác Lim xanh ở Việt Nam đang trở nên là vấn nạn được báo động. Hiện nay cây Lim xanh đang được trồng khảo nghiệm tại rừng đặc dụng ATK huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, nhưng loài cây này vẫn chưa được đánh giá về sinh trưởng và phát triển tại khu vực trồng. xuất phát từ lí do trên, tôi tiến hành “nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây Lim xanh (Erythrophleum fordii oliver) tại ban quản lí rừng đặc dụng ATK huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” là hết sức cần thiết giúp ta hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh trưởng và phát triển của loài cây này. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Về lý luận Xác định được đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây Lim xanh tại rừng đặc dụng ATK, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Về thực tiễn Đề xuất một số biện pháp kĩ thuật gây trồng và chăm sóc cây Lim xanh tại rừng đặc dụng ATK, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vẫn đè khoa học ngoài thực tiễn. - Làm quen với một số phương pháp đã được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể.
- Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học, biết vận dụng kiến thức vào thực tế,và có thể tích lũy những kiến thức quý giá phục vụ cho quá trình nghiên cứu trong tương lai. Ý nghĩa thực tiễn - Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm sinh trưởng phát triển của loài cây Lim xanh. - Áp dụng các biện pháp đề xuất của đề tài vào việc trồng rừng tại địa bàn nghiên cứu giúp cho rừng trồng Lim xanh phát triển tốt hơn.
h 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cây Lim xanh và hệ thống phân loại Cây Lim xanh: Erythrophleum fordii oliver. Tên khác: Lim, Thiết Lim. Phân họ vang: Caesalpinioideae.
Họ vang: Caesalpiniaceae. Bộ đậu: Fabales. Cây Lim xanh và hạt Lim xanh Tổng quan về Phân họ Vang (Caesalpinioideae) là một phân họ trong bộ lớn là bộ Đậu (Fabales). Tên gọi của nó được tạo thành từ tên của họ Vang (Caesalpinia).
Phân họ Caesalpinioideae chủ yếu là cây thân gỗ phân bố trong vùng ẩm ướt của khu vực có khí hậu nhiệt đới nhiệt độ trung bình cao và lượng mưa lớn. Hoa của phân họ này chủ yếu là loại đối xứng hai bên, nhưng hay biến đổi. Các nốt sần cố định đạm trên rễ của các loài trong phân họ này là rất hiếm và ở những loài có các nốt sần thì chúng cũng có cấu trúc hết sức nguyên thủy. h 6 Sự miêu tả và tình trạng của phân họ này hiện đang có sự tranh cãi nhỏ.
Mặc dù phân họ này như đã miêu tả ở trên được công nhận khá nhiều, nhưng vẫn có một số chi mà việc đưa chúng vào (phân họ này, hoặc một trong hai phân họ khác) vẫn chưa có sự thừa nhận chung. Trong một số hệ thống phân loại, ví dụ trong hệ thống phân loại thực vật có hoa, phân họ này được công nhận như một họ của họ Vang (Caesalpiniaceae). Các nghiên cứu hệ thống hóa gần đây, sử dụng các dữ liệu phân tử, đã chỉ ra rằng nhóm này bao gồm nhiều phân họ với nhau khi xem xét trong mối quan hệ với hai phân họ đậu và phân họ Vang. Việc chia tách đang được nghiên cứu [15].
Tổng quan về Bộ đậu (Fabales) là một bộ thực vật có hoa. Nó nằm trong nhóm hoa hồng rosids của thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots) trong hệ thống phân loại của APG II. Trong hệ thống phân loại này bộ đậu bao gồm các họ như Fabaceae (bao gồm các phân họ như Caesalpinioideae, Cercideae, Faboideae, Mimosoideae), họ Polygalaceae (bao gồm các phân họ Carpolobieae, Moutabeae, Polygaleae-(họ viễn chí) và Xanthophylleae) và họ Surianaceae. Trong hệ thống Cronquist năm 1981 và một số hệ thống phân loại thực vật khác, bộ Đậu chỉ chứa mỗi họ Đậu (Fabaceae) còn các họ khác mà APG II (hệ thống phân lại sinh học thực vật hiện đại) xếp vào bộ này được xếp vào các họ khác nhau, chẳng hạn theo Cronquist đã xếp họ Polygaleae- (họ viễn chí) vào trong một họ của bộ đậu, còn hai họ Quillajaceae và Surianaceae nằm trong bộ Rosales (hoa hồng) [15].
Bộ Đậu chiếm khoảng 9,6% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật sự (Magallón và ctv. Wikstrom và ctv. Đặc điểm cây Lim xanh 2. Đặc điểm hình thái Lim xanh là một cây gỗ lớn thường xanh, có khả năng đạt chiều cao từ 37-45m, và đường kính 200-250 cm.
Gốc có bạnh vè. Thân cây tròn với vỏ màu nâu đậm, có vết nứt vuông, có nhiều khí khổng dễ thấy và có thể bị bong vảy lớn. Có tán lá dày và xanh quanh năm. Lá của cây Lim xanh là lá kép lông chim hai lần và hình trứng.
Mặt trên của lá là màu xanh đậm, trong khi mặt dưới là màu xanh lá cây nhạt với tĩnh mạch dễ thấy. Hoa của cây Lim xanh là cụm hoa mọc thành chùm ở đỉnh sinh trưởng, dài 20 - 30cm, hoa nhỏ màu trắng nở vào tháng tư. Quả của cây Lim xanh là quả thuỗn dài 20 cm, rộng 3-4 cm, trong đó có chứa 6 - 12 hạt. Hạt dẹt màu nâu đen, xếp lợp lên nhau, có lớp vỏ chất sừng, cứng và đen, bảo vệ chắc nên tồn tại lâu trong đất, dễ bảo quản [10].
Đặc điểm sinh thái Lim xanh là loài cây ưa sáng, thường chiếm tầng trên của rừng, lúc còn nhỏ chịu bóng. Có thể trồng trong các trạng thái tự nhiên có độ tàn che 0,3 - 0,7. Được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc [10].