Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống Giống là một trong những nhân tố quan trọng quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm của ngành trồng trọt nói chung và cây cà chua nói riêng. Việc nghiên cứu, xác định các giống cà chua có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất cho các hộ trồng cà chua trên địa bàn tỉnh Sơn La. Chọn giống có hiệu quả là giải quyết tốt mối quan hệ phức tạp giữa các tính trạng trong cơ thể cây trồng và mối quan hệ giữa cây trồng và môi trường để đảm bảo cho giống có năng suất cao và ổn định, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp với yêu cầu thâm canh và điều kiện sản xuất của địa phương. Các đặc tính của giống cây trồng được quyết định không những bởi môi trường và sự chọn lọc (tự nhiên và nhân tạo) đã tác động lên thành phần di truyền, mà còn được quyết định bởi tính chất phong phú hay nghèo nàn của thành phần di truyền giống đó.
Muốn khẳng định giống mới có ưu thế hơn các giống khác thì phải qua khảo nghiệm và đánh giá một cách cụ thể và chi tiết các loại giống. Mặt khác, mỗi loại giống cây trồng nói chung và cà chua nói riêng phù hợp với một điều kiện đất đai, thời tiết và điều kiện ngoại cảnh nhất định. Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ đó có biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, kĩ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển 5 một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao.
Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lí, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu đất đai, kinh tế xã hội. Để có những giống có năng suất cao, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Chọn tạo giống cây trồng nói chung và cây cà chua nói riêng theo hướng phù thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai của từng vùng, kỹ thuật canh hay nhu cầu chế biến ăn tươi mà xác định sự đa dạng trong công tác chọn tạo loại cây trồng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm đánh giá sự thích ứng của giống nói chung, giống cà chua nói riêng tại địa phương trên các loại đất, điều kiện khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác nhau.
Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây thiệt hại cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Cơ sở thực tiễn Tuy Sơn La có địa hình cao dốc nhưng lại có 2 cao nguyên tương đối bằng phẳng là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản có những lợi thế nhất định để phát huy nguồn lực, tiềm năng trong phát triển kinh tế nói chung và một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá nói riêng với đặc thù riêng chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa. Khí hậu Sơn La mang tính chất nhiệt đới gió mùa có pha trộn khí hậu ôn đới hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu thích hợp để phát triển tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng phát huy lợi thế vùng sinh thái. Những năm qua sản xuất cà trong tỉnh đã phát triển mạnh về cả quy mô diện tích và sản lượng cung cấp ra thị trường, đặc biệt là phát triển cà chua trái vụ ở trên địa bàn một số huyện của tỉnh….
Tuy nhiên thực tế hiện nay sản xuất cà chua trong tỉnh năng suất bình quân vẫn còn thấp 11-12 tấn/ha, chỉ bằng 1/2 năng suất bình quân của các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Việc lựa 6 chọn đưa giống cà chua mới vẫn chưa được các hộ dân quan tâm dẫn đến năng suất bình quân cà chua tỉnh đạt thấp. Cơ sở chọn 2 bản làm đề tài: Đất sản xuất nông nghiệp tại tỉnh cũng chia thành hai vùng tương đối rõ nét vùng cao có điều kiện thuận lợi để quy hoạch phát triển, cây ăn quả, rau, hoa đặc biệt là cây ăn quả và rau hoa có nguồn gốc ôn đới; vùng thấp phát triển các loại cây hàng năm, rau, đậu. Vì vậy lựa chọn 1 điểm nghiên cứu đại diện cho vùng cao có địa hình cao, dốc, đất canh tác chủ yếu là đất đồi, bãi và 1 điểm đại diện cho vùng thấp, địa hình thấp, đất canh tác bằng phẳng, đất ruộng.
Thực tế cho thấy mỗi vùng phải có bộ giống thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng đó mới cho năng suất cao, chất lượng tốt để sản xuất có hiệu quả. Vậy lựa chon 2 điểm nghiên cứu với mong muốn chọn được giống cà chua có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng cao phù hợp điều kiện tự nhiên của từng vùng, luân canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh Sơn La. Nước ta đã có bộ giống cà chua khá phong phú, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước. Đây chính là cơ sở khoa học cho những chương trình nghiên cứu tiếp, đồng thời cũng là hướng đi tiếp cho các nghiên cứu, chọn tạo ra các giống cà chua có năng suất cao thích hợp trồng ở nhiều vùng khác nhau.
Tuy nhiên việc đưa các giống mới vào các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Sơn La vẫn chưa có nhiều giống cà chua mới được đưa vào sản xuất do đó chúng tôi đã tiến hành đề tài. Tình hình sản xuất cà chua ở thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới Cà chua đã và đang trở thành một loại cây thế mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao cho 178 nước trên thế giới (theo FAO 2015)[36]. Trên thế giới đã có nhiều giống cà chua mới được ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về số lượng và chất lượng.1: Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới.
Diện tích Năngsuất Sản lượng Năm ( 1000ha) (tấn/ha) (nghìn tấn) 2004 4.492,970 Nguồn:FAODatabaseStatic2015[36] Năm 2013 tổng diện tích cà chua thế giới là 4.457 ha so với năm 2004 tăng 6,7% (tăng 299.898ha); sản lượng cà chua năm 2013 là 164.492,97 nghìn tấn, tăng so với năm 2004 là 28,9% (tăng 36.929,0 nghìn tấn); Năng suất năm 2013 là 34,539 tấn/ha, tăng so với năm 2004 là 20,8% (tăng 5,94 tấn/ha). Trong vòng từ 2004 đến 2013 năng suất và sản lượng cà chua thế giới tăng khá nhưng diện tích trồng có sự thay đổi nhưng không đáng kể. Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên châu lục (1000 ha) (tấn/ha) (1000tấn) Châu Phi 976.965,199 Châu Đại Dương 7.2: Năm 2013, Châu Á có diện tích trồng cà chua 2.821,820 nghìn ha, sản lượng là 99.205,498 nghìn tấn lớn nhất, nhưng về năng suất Châu đại dương đạt cao nhất 72,667 tấn/ha, sau đó là Châu Mỹ 53,943 tấn/ha. Những nước có sản lượng cà chua cao trên thế giới năm 2013 STT Tên nước Sản lượng (nghìn tấn) 1 Trung Quốc 50.487,646 8 Tây Ban Nha 3.3 cho thấy năm 2013 Trung Quốc là nước có sản lượng cà chua lớn nhất là 50.552,200 nghìn tấn, sau đó đến Ấn Độ là 18.227,000 nghìn tấn và thấp nhất là Mexico đạt 3.
Tình hình sản xuất cà chua tại Việt Nam Cà chua là cây được du nhập vào Việt Nam mới được hơn 100 năm nhưng đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng ngày càng rộng rãi. Cà chua ở nước ta được trồng chủ yếu vào vụ đông (chính vụ), có thời gian cung cấp sản phẩm ngắn. Từ năm 1997-2000, cuộc “cách mạng” lần thứ nhất trong sản xuất cà chua trong nước xảy ra với sự ra đời của các giống cà chua lai chịu nóng trồng được nhiều thời vụ trong năm, với diện tích khoảng 6.300 ha và thường tập trung ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc…), còn ở Miền Nam tập trung ở các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng… Từ đó tới nay sản xuất cà chua ở miền Bắc được triển khai ở các thời vụ hè thu, thu đông (các vụ sớm), vụ đông (chính vụ), vụ xuân hè (vụ muộn). 9 Sản phẩm cà chua tươi cung cấp cho thị trường kéo dài từ đầu tháng 10 dương lịch tới đầu tháng 7 năm sau, đó là một tiến bộ rất lớn.
Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua củaViệt Nam Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng(tấn) 2004 24.890 Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2013[22] Trong giai đoạn 2004- 2012, diện tích cà chua nước ta giảm nhẹ từ 24.918 ha, nhưng năng suất năm 2004 đạt 172 tạ/ha, đến năm 2012 tăng lên 258 tạ/ha, tăng (86tạ/ha) và sản lượng lại tăng 192. Trong sản xuất cà chua nước ta từ năm 2008 - 2011 đã đánh dấu sự ra đời cuộc cách mạng lần thứ hai, cà chua chất lượng cao. Với những thành tựu về tạo ra các bộ giống cà chua lai chất lượng cao và các quy trình công nghệ phát triển sản xuất đã và đang ra đời và tiếp tục phát triển, hoàn thiện, chúng ta hoàn toàn có thể đưa nền sản xuất cà chua nhỏ lẻ, chủ yếu là cây gia vị thành nền sản xuất lớn với đa dạng về các chủng loại sản phẩm, có mức tiêu thụ lớn, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đem lại kim ngạch vượt hơn nhiều so với xuất khẩu gạo. Ở các tỉnh miền Bắc (chủ yếu vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ), khi sử dụng các bộ giống cà chua lai chất lượng cao tạo ra trong nước và các quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến đạt được ở các mùa vụ, chúng ta có thể cung cấp khối lượng sản phẩm lớn cho chế biến và tiêu dùng quả tươi từ khoảng 15/11 tới hết tháng 6 năm sau (7,5 tháng cung cấp sản phẩm trong chu kỳ 1 năm).