Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học 1. Phân loại học Linh trưởng VN Quan điểm về phân loa ̣i thú Linh trưởng ở Viê ̣t Nam thay đổi theo thời gian và rất khác nhau giữa các tác giả. Chẳng hạn, theo phân loại của Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) và Tilo Nadler et al.
(2007) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ. Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài. Tuy có sự khác nhau về số lượng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam có 3 ho ̣ chính: Ho ̣ Cu li (Loridae), ho ̣ Khỉ (Cercopithecidae) và ho ̣ Vươ ̣n (Hylobatidae). Theo hệ thống phân loại của Groves (2004) khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam được trình bày ở bảng 1.
Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam theo Grove (2004) Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1. Cu li lớn Nycticebus bengalensis 2. Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus 3. Khỉ cộc Macaca arctoides 4.
Khỉ mốc Macaca assamensis 5. Khỉ đuôi lợn Macaca leonine 6. Khỉ vàng Macaca mulatta 7. Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis 8.
Voọc xám Trachypithecus crepusculus 9. Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10. Voọc gec manh Trachypithecus germaini LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi 12.
Voọc đầu trắng Trachypithecus poliocephalus 13. Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis 14. Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus 15. Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri 16.
Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17. Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18. Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 19. Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus 20.
Vượn đen tuyền Nomascus concolor 21. Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23. Vượn siki Nomascus siki 24.
Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) 1. Vị trí phân loại của loài Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) Trong luâ ̣n văn này, sử dụng hê ̣ thố ng phân loại thú Linh trưởng theo hệ thống phân loại của Groves (2004) vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đẩy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi. Vị trí phân loại của Voọc Hà Tĩnh hiện nay như sau: Bộ Linh trưởng - Primates Họ Khỉ, Voọc - Cercopithecidae Họ phụ Voọc - Colobinae Giống - Trachypithecus Voọc Hà Tĩnh - Trachypithecus hatinhensis 1. Thông tin về loài Voọc Hà Tĩnh 1.
Đặc điểm nhận biết Đào Văn Tiến (1973) đã đặt tên cho loài là Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus francoisi hatinhensis; Lê Hiền Hào (1973), gọi phân loài này là Voọc Hà Tĩnh vì nó phản ánh một hình thái quan trọng là gáy có dải lông màu trắng trên cơ sở đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhất với cách đặt tên của 3 phân loài khác thuộc loài Voọc đen này là: Voọc má trắng, Voọc đầu vàng; Voọc mông trắng. Trong tài liệu mới nhất về phân loại học của loài Voọc Hà Tĩnh và trong tài liệu của Brandon – Jones, et all (2004) Asian Primates Classification đã khẳng định, xác định tên khoa học của loài Voọc Hà Tĩnh là (Trachypithecus hatinhensis Dao, 1970), đề tài sử dụng theo cách phân loại này khi gọi danh pháp khoa học cho loài Voọc Hà Tĩnh. Đặc điểm hình thái Voọc Hà Tĩnh có kích thước dài đầu và thân 610 - 615 mm; Dài đuôi 749 - 810 mm; Dài bàn chân sau: 155 - 166 mm; Cao tai 30 - 35 mm; Trọng lượng 6,5 - 10,5 kg; là loài thú Linh trưởng cỡ lớn. Bộ lông dầy, sợi lông dài, mềm và mầu đen.
Đỉnh đầu có mào lông màu đen. Có hai vệt trắng nhỏ và hẹp bắt đầu từ hai góc mép chạy qua má lên phía trên vành tai, vòng ra phía sau và gần nối liền với nhau ở vùng gáy. Đuôi dài hơn chiều dài của thân, thon đều và lông màu đen. Lông vùng háng, quanh bộ phận sinh dục thưa, màu đen nhạt.
Mắt đen, quanh mắt da màu đen nâu. Voọc Hà Tĩnh lúc mới sinh, da mặt, da tai, da lòng bàn tay, lòng bàn chân màu trắng hồng, mắt xanh đen toàn thân mầu vàng hoe, màu lông, da mặt, da tai, da chân tay chuyển sang màu đen theo quá trình sinh trưởng 3 tuần tuổi màu lông bắt đầu chuyển dần sang đen. Sau 3 - 6 tháng tuổi bộ lông giống con trưởng thành. Công thức răng: 2.
Phân bố của Voọc Hà Tĩnh Mẫu vật Voọc Hà Tĩnh lần đầu tiên thu được ở xóm Cục thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh (Bourret, 1942). Ninh hoá, Tuyên Hoá - Quảng Bình (Đào Văn Tiến, 1964, 1970); Như Xuân - Thanh Hoá, Con Cuông, Tương Dương - Nghệ An (Lê Hiền Hào, 1973), Bố Trạch, Xuân Trạch, Quảng Ninh, Minh Hoá - Quảng Bình, Phạm Nhật (1995, Lê Xuân Cảnh(1992), Vũ Ngọc Thành(1992, 1995) và ở Trung Lào (KBTTN Himnamno). Kết quả điều tra trong những năm gần đây của các nhà Khoa học chỉ ghi nhận được phân loài này có mặt ở các huyện Minh Hoá, Bố Trạch, Xuân Trạch và Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình nhưng số lượng chủ yếu chỉ tập trung ở 3 huyện Minh Hoá và Bố Trạch, Xuân Trạch Phạm Nhật (2002, 2003), Đỗ Tước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các số liệu thống kê trước đây về sự phân bố của Voọc Hà Tĩnh từ Nghệ An đến Gia Lai.
Trong những năm gần đây (1998 - 2011) mọi thông tin điều tra, báo cáo ngoài thực địa cho thấy Voọc Hà Tĩnh không quan sát được ở Nghệ An, Hà Tĩnh và Gia Lai. Voọc Hà Tĩnh sống trong các khu rừng giàu, nhiều cây gỗ lớn mọc trên núi đá. Voọc sống thành bầy đàn, chỉ ăn thực vật, không ăn động vật và côn trùng (Nguyễn Hải Hà, 2003, 2011). Nghiên cứu về sinh thái và tập tính của Voọc Hà Tĩnh Nghiên cứu về thú Linh trưởng ở Việt Nam đã được nhiều tác giả trong nước và nước ngoài tiến hành nghiên cứu từ rất sớm.
Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân loại học, tình trạng của các loài Linh trưởng, các nghiên cứu sâu về sinh thái và tập tính của loài còn ít. Cũng giống như các loài Linh trưởng khác, thông tin về phân bố và tình trạng của loài Voọc Hà Tĩnh hiện nay đã được báo cáo khá chi tiết, tuy nhiên các đặc điểm sinh thái của loài vẫn là vấn đề rất được quan tâm của các nhà nghiên cứu. Những nghiên cứu đầu tiên của các nhà Khoa học nước ngoài về Voọc có: Groves (2001; 2004), Brandon - Jones (1995; 1996), Nadler (2003). Từ năm 1964 đến năm 1991 nghiên cứu Voọc Hà Tĩnh đã được nghiên cứu trong nước của các nhà Khoa học Việt Nam như: Đào Văn Tiến (1964, 1985), Lê Hiền Hào (1973), Hà Đình Đức (1995).
Kết quả các công trình trên đã nêu được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phân bố, tình trạng, quan hệ địa lý của Voọc Hà Tĩnh ở một số vùng nhất định. Tuy nhiên, đây chỉ là các báo cáo sơ bộ, phân tán, ghi nhận ban đầu về mặt khu hệ và phân loại. Những tài liệu về mặt sinh học, sinh thái học hầu như chưa có. Năm 1989 Đào Văn Tiến có giả thuyết nổi tiếng về quá trình tiến hoá toả tròn của các phân loài Presbytis francoisi ở Đông Dương (trước đây Trachypithecus francoisi có tên là Presbytis francoisi).
Về mặt địa lý động vật, ông phân chia khu vực phân bố của loài này tại miền Bắc Việt Nam ra 3 vùng là vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ. Trong đó ông cho rằng từ một loài Presbytis francoisi sinh sống ở khu vực mà hiện nay phân loài Presbytis francoisi hatinhensis hiện đang phân bố (vùng Bắc Trung Bộ), khoảng 9000 năm trước đây các phân loài của nó phát tán theo các hướng khác nhau toả rộng ra. Đó là Presbytis francoisi poliocephalus phát tán về phía Đông Bắc, ra vùng Đông Bắc và hiện nay còn ở đảo Cát Bà Hải Phòng, Presbytis francoisi leucocephalus cũng phát tán về vùng Đông Bắc nhưng định cư xa hơn, ở tận Nam Trung Quốc. Presbytis francoisi francoisi phát tán lên phía chính Bắc và phân bố ở vùng Đông Bắc, và một phần phía Nam Trung Quốc.
Presbytis francoisi delacouri phát tán về phía Tây Bắc, định cư ở vùng Tây Bắc. Presbytis francoisi laotum phát tán về phía Tây và phân bố tại miền trung Lào. Từ năm 1992 cho đến nay: Hướng nghiên cứu đã được đẩy mạnh trên toàn quốc, nhiều nhà Khoa học Việt Nam ở các nơi như: Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Viện điều tra quy hoạch rừng, Cục Kiểm Lâm, Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương, Trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, các tổ chức Quốc tế, Phi chính phủ ở Việt Nam như: FFI, WWF, CI, PCI, IUCN, FOR. Rrankfurt Zoological Society.
Các kết quả nghiên cứu Khoa học tiêu biểu của các tác giả được kể đến: Cao Văn Sung (1995), Đặng Huy Huỳnh (1995), Hà Đình Đức (1995), Phạm Nhật (1992; 2002), Lê Xuân Cảnh, (1992; 1995), Đặng Tất Thế (2001, 2005), Vũ Ngọc Thành (1995, 1997, 2000), Nadler,T., (1996; 1998; 2000; 2001; 2002; 2003), Nguyễn Hải Hà (2002, 2003, 2004, 2009, 2011), Nguyễn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mạnh Hà (2006)… Tổng hợp các kết quả đã đưa ra các kết luận quan trọng về phân bố, tình trạng, phả hệ di truyền và một số đặc điểm sinh học, sinh thái Voọc Hà Tĩnh ở Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Vườn Quốc gia Cúc Phương và ở ngoài thiên nhiên. Phạm Nhật (2002), dựa vào việc cho ăn thử các thức ăn khác nhau, đã lập một bảng danh sách các loài thực vật làm thức ăn cho Voọc Hà Tĩnh bao gồm có 141 loài thuộc 41 họ. Phạm Nhật, Corvert, Đỗ Quang Huy và Nguyễn Hải Hà (2004) đã nghiên cứu phân bố tình trạng và một số đặc điểm sinh học các loài Linh trưởng ở VQG Phong Nha - Kẻ Bảng. Trong báo cáo đã mô tả một số đặc điểm về di chuyển, tập tính vận động và ban đầu đã thống kê được 51 loài thực vật làm thức ăn cho Voọc Hà Tĩnh và Chà vá chân nâu.
Nalder, Nguyễn Xuân Đặng, Lomée và Momberg, (2003) đã đưa ra đặc điểm hình thái, sinh thái, tập tính phân bố cũng như tình trạng và các mối đe dọa đối với loài khỉ ăn lá của Việt Nam. Nguyễn Vũ Khôi (2005) tập hợp các tài liệu và cho ra cuốn hướng dẫn điều tra ngoại nghiệp thú Linh trưởng.