Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm chung bộ Linh trưởng Bộ Linh trưởng (Primates) gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật. Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xương sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của Linh trưởng được đặc trưng bởi hình dạng và cấu trúc các chi. Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai và có thể quay quanh trục của nó.
Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại. Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trước giảm đáng kể vai trò nâng đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay. Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não.
Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống. Hai hố mắt gần nhau, mắt hướng về trước tạo nên kiểu nhìn lưỡng hình. Thể tích hộp sọ tương đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ.
Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá của Linh trưởng (Fleagle, 1999; Groves, 2001; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2008; Phạm Nhật, 2002). Tất cả các loài Linh trưởng đều có răng cả ở hàm trên và hàm dưới. Mỗi hàm răng của Linh trưởng bao gồm 4 loại răng: Răng cửa, răng nanh, răng trước hàm và răng hàm (Fleagle, 1999). Cấu tạo bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhưng thiên về thực vật (quả, lá).
Số lượng răng của các loài Linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc. Các loài Linh trưởng ở con đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng. Con cái có một đôi vú ngực phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng. Nhau của Linh trưởng thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm Leiur và rụng ở các loài khác.
Thời gian mang thai dài, thường đẻ một con. Con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa dài (Phạm Nhật, 2002). Phân loại Linh trưởng ở Việt Nam Khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học trong nước cũng như quốc tế nghiên cứu và đưa ra quan điểm phân loại. Tuy nhiên các quan điểm về phân loại lại khác nhau và thay đổi theo thời gian và giữa các tác giả (bảng 1.
Phân loại Linh trưởng ở Việt Nam theo thời gian Số loài và Năm Họ Nguồn phân loài 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) 2007 3 25 Roos et al. (2007) 2011 3 26 Blair et al. (2011) 2012 3 25 Tilo Nadler (2010) 2013 3 25 Roos et al. (2013) 2014 3 25 Roos et al.
Groves (2001), cho rằng Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ. Một năm sau đó nhà khoa học Phạm Nhật lại đưa ra danh lục 25 loài Linh trưởng ở Việt Nam, ngoài 24 loài trùng với Groves (2001), Phạm Nhật đã bổ sung thêm một loài Linh trưởng là Pileated Gibbon Hylobates pileatus (Gray, 1861). Tuy nhiên, sau nhiều cuộc điều tra được thực hiện trong các năm từ 2002 - 2004 các nhà khoa học đã khẳng định loài này không có phân bố ở Việt Nam, mà chỉ phân bố ở phía Tây của sông Mekong. Đồng tình với quan điểm này, Roos (2004), Groves (2004) cũng khẳng định Việt Nam chỉ có 24 loài Linh trưởng.
luan an 7 Trong hệ thống phân loại học phân tử các loài Linh trưởng Đông Dương của Roos và cs (2007), thì khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ và danh lục được khẳng định chắc chắn hơn khi Văn Ngọc Thịnh và cs (2010) đã sử dụng phương pháp phân tích DNA, âm học và hình thái đã mô tả loài vượn mới ở dãy Trường Sơn với tên gọi Vượn má hung trung bộ (Nomascus annamensis). Như vậy, danh mục Linh trưởng Việt Nam đã được bổ sung thêm 1 loài. Một năm sau công bố của Văn Ngọc Thịnh và cs, trong hệ thống phân loại Linh trưởng của Blair et al. Hai loài được bổ sung gồm Khỉ đuôi dài côn đảo (Macaca fascicularis condorensis) và Vượn má hung trung bộ (Nomascus annamensis).
Nadler (2012), lại cho rằng hệ thống phân loại Linh trưởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Kết quả này giống với các quan điểm trước đó như Roos (2004), Roos và cs (2007) và đã bao gồm cả loài Vượn má hung trung bộ và mới đây nhất là theo phân loại Linh trưởng Châu Á của Roos et al. (2014), thì khu hệ Linh trưởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Hệ thống phân loại này dựa trên cơ sở phân loại của chính tác giả năm 2004, đây là hệ thống phân loại đã được các nhà khoa học chấp nhận và sử dụng trong thời gian dài và bổ sung thêm một loài mới là Vượn má hung trung bộ (Nomascus annamensis).
Thảo luận: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả qua thời gian, đồng thời so sánh với các tiến bộ khoa học trong việc ứng dụng phương pháp sinh học phân tử để đưa ra hệ thống phân loại, tác giả có đồng quan điểm với Nadler (2012), Roos et al. Loài Khỉ đuôi dài côn đảo (Macaca fascicularis condorensis) trong hệ thống phân loại của Blair et al. (2011) bị loại bỏ, do các nhà khoa học cho rằng, Khỉ đuôi dài côn đảo chỉ là một phân loài của khỉ luan an 8 đuôi dài. Vì vậy, trong khuôn khổ luận án này, NCS sử dụng hệ thống phân loại của Roos et al (2014) để nghiên cứu.
Kết quả được trình bày ở bảng 1. Phân loại Linh trưởng ở Việt Nam theo Roos et al., 2014; Blair et al., 2011 Nycticebus pygmaeus Phạm Nhật, 2002; Blair et al., 2 Cu li nhỏ (Bonhote, 1907) 2011; Roos et al., 2014 II Họ khỉ Cercopithecidae Macaca arctoides Phạm Nhật, 2002; Blair et 3 Khỉ mặt đỏ (I., 2011; Roos et al., 2014 Macaca assamensis Phạm Nhật, 2002; Blair et 4 Khỉ mốc (M'Clelland, 1840) al. 2011; Roos et al., 2014 Macaca fascicularis Phạm Nhật, 2002; Blair et 5 Khỉ đuôi dài (Raffles, 1821) al., 2011; Roos et al., 2014 Macaca mulatta Phạm Nhật, 2002; Blair et 6 Khỉ vàng (Zimmermann, 1780) al., 2011; Roos et al., 2014 Macaca leonina (Blyth, Phạm Nhật, 2002; Blair et 7 Khỉ đuôi lợn 1863) al., 2011; Roos et al. Giống Pygathrix Pygathrix cinerea Phạm Nhật, 2002; Blair et 8 Chà vá chân xám (Nadler, 1997) al., 2011; Roos et al.
Pygathrix nemaeus Phạm Nhật, 2002; Blair et 9 Chà vá chân nâu (Linnaeus, 1771) al., 2011; Roos et al., 2014 Pygathrix nigripes Phạm Nhật, 2002; Blair et 10 Chà vá chân đen (Milne-Edwards, 1871) al., 2011; Roos et al., 2014; Giống Trachypithecus Trachypithecus Phạm Nhật, 2002; Blair et 11 Voọc xám crepusculus al., 2011; Roos et al., 2011; Roos et al., 2014; luan an 9 Tên loài TT Nguồn Tên Việt Nam Tên khoa học Trachypithecus francoisi Phạm Nhật, 2002; Blair et 13 Voọc đen má trắng (De Pousargues, 1898) al., 2011; Roos et al., 2014; Trachypithecus Phạm Nhật, 2002; Blair et 14 Voọc hà tĩnh hatinhensis (Dao, 1970) al., 2011; Roos et al., 2014; Trachypithecus Phạm Nhật, 2002; Blair et 15 Voọc đầu trắng poliocephalus al., 2011; Roos et al., 2011; Roos et al., 2014; Trachypithecus germaini Phạm Nhật, 2002; Blair et 17 Voọc bạc nam bộ (Milne-Edwards, 1876) al., 2011; Roos et al., 2014; Trachypithecus margarita Phạm Nhật, 2002; Blair et 18 Voọc bạc trung bộ (Elliot, 1909) al., 2011; Roos et al., 2014; Giống Rhinopithecus Rhinopithecus avunculus Phạm Nhật, 2002; Blair et 19 Voọc mũi hếch (Dollman, 1912) al., 2011; Roos et al., 2014; III Họ Vượn Hylobatidae Nomascus concolor Phạm Nhật, 2002; Blair et 20 Vượn đen tuyền tây bắc (Harlan, 1826) al., 2011; Roos et al., 2014; Nomascus nasutus Phạm Nhật, 2002; Blair et 21 Vượn đen cao vít (Thomas, 1892) al., 2011; Roos et al., 2014; Nomascus leucogenys Phạm Nhật, 2002; Blair et 22 Vượn đen má trắng (Ogilby, 1840) al., 2011; Roos et al., 2014; Vượn đen má vàng (hay Nomascus gabriellae Phạm Nhật, 2002; Blair et 23 má hung) (Thomas, 1909) al., 2011; Roos et al., 2014; Phạm Nhật, 2002; Blair et Nomascus siki 24 Vượn siki al., 2011; Roos et al., 2014; (Delacour, 1951) Nomascus annamensis Van Ngoc Thinh et al., 2010; (Van Ngoc Thinh, Blair et al, 2011; Roos et al, 25 Vượn má hung trung bộ Mootnick, Vu Ngoc 2014. Thanh, Nadler, roos, 2010) luan an 10 1. Phân bố Linh trưởng ở Việt Nam Linh trưởng trước đây phân bố hầu khắp các tỉnh có rừng ở Việt Nam, có những loài phân bố rộng khắp cả nước (Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ), trong khi có những loài chỉ được ghi nhận trong phạm vi hẹp (Voọc mũi hếch, Voọc cát bà). Tuy nhiên, hiện nay phân bố của các loài Linh trưởng ở Việt Nam đang bị thu hẹp do mất sinh cảnh và săn bắn.
Chẳng hạn như: Voọc mũi hếch trước kia từng phân bố ở Ba Bể - Bắc Kạn nhưng đến năm 2007 không còn sự hiện diện của chúng ở khu vực này (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Đối với Voọc đen má trắng trước kia phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam, cho đến nay quần thể loài này chỉ giới hạn ở một số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên với số lượng quần thể nhỏ và bị chia cắt (Naderet et al. Kết quả phân bố khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam được trình bày tại bảng 1. Phân bố thú Linh trưởng ở Việt Nam Phân bố Nguồn TT Tên loài Trong nước Quốc tế Phân bố của loài được ghi nhận từ Assam, Ấn Phạm Nhật, Thừa Thiên Huế trở ra Bắc.
Cụ Độ, Miến 2002; thể ở Lạng Sơn (Hữu Lũng), Bắc Điện, Thái BKHCN, Cạn (Chợ Đồn, Ba Bể), Hòa Bình Lan, Cam 2007; Roos et 1 Cu li lớn (Đà Bắc), Quảng Bình (Bố Pu Chia, al, 2014 Trạch), Quảng Trị (Lao Bảo) Lào, Thừa Thiên Huế (Huế), Quảng Malaysia, Ninh (Hoàng Bồ),… Indonesia và Philipin Phân bố từ biên giới phía Bắc đến Nam Trung Phạm Nhật, tỉnh Bình Phước. Quốc, Lào 2002; Được ghi nhận nhiều nơi: Hà và Cam Pu BKHCN, 2 Cu li nhỏ Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Chia 2007; Roos et Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh al.