Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của khu hệ Linh trưởng tại khu BTTN Bắc Hướng Hóa, Tỉnh Quảng Trị" được nghiên cứu sinh Thái Văn Thành thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp (Hà Nội, 2019) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đồng Thanh Hải và PGS.TS. Nguyễn Lân Hùng Sơn, thuộc chuyên ngành Lâm sinh (mã số: 96 20 205).
Về tính cấp thiết, tỉnh Quảng Trị thuộc vùng Trung Bộ Việt Nam với tỷ lệ che phủ rừng chiếm trên 50% diện tích tự nhiên, sở hữu tính đa dạng sinh học cao và là nơi cư ngụ của nhiều loài chim, thú đặc hữu. Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa được thành lập năm 2007, là khu bảo tồn thiên nhiên duy nhất của Việt Nam nằm trọn vẹn ở sườn Tây dãy Trường Sơn, tiếp giáp tỉnh Quảng Bình và kết nối với các dải rừng tự nhiên sang phía Trung Lào. Khu bảo tồn sở hữu địa hình cao nhất tỉnh Quảng Trị với hai đỉnh núi nổi trội là Sa Mù (1.550 m) và Voi Mẹp (1.707 m), tạo nên nhiều sinh cảnh đặc thù cho các loài động vật chỉ thị như Bò tót (Bos gaurus), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Thỏ vằn (Nesolagus timminsi), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki).
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình khảo sát giai đoạn 2004–2018 tại Bắc Hướng Hóa tồn tại nhiều mâu thuẫn về số lượng và định danh loài:
- Lê Mạnh Hùng và Đặng Ngọc Cần (2004), Nguyễn Đức Tiến và Lê Trọng Trải (2005) ghi nhận 6 loài.
- Ngô Kim Thái và cộng sự (2012), Khổng Trung (2014) ghi nhận 8 loài nhưng xác định loài vượn là Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys).
- Nguyễn Mạnh Hà và Nguyễn Ngọc Tuấn (2012) ghi nhận 8 loài nhưng xác định là Vượn siki (Nomascus siki).
- Báo cáo của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp (2015) ghi nhận 8 loài và có bổ sung loài Khỉ mốc (Macaca assamensis).
- Điều tra của Tổ chức Viet Nature (2011–2018) ghi nhận 7 loài (không ghi nhận Khỉ mốc và Cu li lớn).
Bên cạnh đó, các dẫn liệu về sinh thái như cấu trúc thảm thực vật, đai độ cao, sinh cảnh sống, thức ăn, mật độ quần thể của hai loài ưu tiên bảo tồn (Voọc hà tĩnh và Vượn siki) cũng như việc lượng hóa các mối đe dọa nhân tác chưa từng được nghiên cứu một cách hệ thống.
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định được thành phần loài và xây dựng bản đồ phân bố các loài Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa.
- Đánh giá được mật độ của loài Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki) tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa.
- Đánh giá được đặc điểm sinh thái của khu hệ Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và mối quan hệ giữa chúng.
- Xác định được các mối đe dọa và đề xuất một số giải pháp hướng tới bảo tồn bền vững các loài Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài Linh trưởng và đặc điểm sinh thái của chúng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm toàn bộ ranh giới Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và hoạt động phỏng vấn dân sinh tại 5 xã vùng đệm tiếp giáp (Hướng Linh, Hướng Sơn, Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập), cùng các thôn nằm trong vùng lõi (Cuôi, Tri, Cợp). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai từ năm 2014 đến 2018, trải qua 247 ngày làm việc thực địa với tổng cộng 688 ngày công.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm lại lịch sử phân loại bộ Linh trưởng tại Việt Nam qua các giai đoạn: Groves (2001) xác định 24 loài và phân loài thuộc 3 họ; Phạm Nhật (2002) đưa ra danh lục 25 loài (bổ sung Hylobates pileatus, nhưng sau đó các khảo sát 2002–2004 xác nhận loài này chỉ phân bố ở phía Tây sông Mekong nên Roos (2004) và Groves (2004) duy trì 24 loài); Roos và cộng sự (2007) xác định 25 loài và phân loài; Văn Ngọc Thịnh và cộng sự (2010) mô tả loài Vượn má hung trung bộ (Nomascus annamensis); Blair và cộng sự (2011) đưa ra danh lục 26 loài khi bổ sung Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis); Nadler (2010, 2012) và Roos và cộng sự (2013, 2014) thống nhất danh lục 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Luận án lựa chọn hệ thống phân loại của Roos và cộng sự (2014) làm cơ sở nghiên cứu, loại bỏ Macaca fascicularis condorensis do giới khoa học xem đây chỉ là phân loài của khỉ đuôi dài, đồng thời khẳng định loài vượn tại Bắc Hướng Hóa là Vượn siki (Nomascus siki).
Về hiện trạng bảo tồn cấp quốc gia và quốc tế, văn bản tổng hợp:
- Sách Đỏ Việt Nam (2007): 22 loài (chiếm 88%), gồm 4 loài Cực kỳ nguy cấp (CR), 8 loài Nguy cấp (EN), 8 loài Sẽ nguy cấp (VU).
- Danh lục Đỏ thế giới IUCN (2019): 23 loài (chiếm 92%), gồm 7 loài CR, 9 loài EN, 4 loài VU, 1 loài Sắp bị đe dọa (NT). Hai loài nằm trong danh sách 25 loài Linh trưởng nguy cấp nhất thế giới giai đoạn 2016–2018 theo Schwitzer và cộng sự (2017) là Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus, dưới 60 cá thể) và Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus, dưới 250 cá thể).
- Nghị định số 160/2013/NĐ-CP: 17 loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
- Nghị định số 06/2019/NĐ-CP: 24 loài, gồm 19 loài thuộc nhóm IB và 5 loài thuộc nhóm IIB.
- Công ước CITES (2019): 25 loài (100%), gồm 11 loài thuộc Phụ lục I và 14 loài thuộc Phụ lục II.
| Tác giả / Nguồn |
Năm công bố |
Số họ |
Số loài và phân loài ghi nhận |
| Groves |
2001 |
3 |
24 |
| Phạm Nhật |
2002 |
3 |
25 |
| Roos |
2004 |
3 |
24 |
| Groves |
2004 |
3 |
24 |
| Roos và cộng sự |
2007 |
3 |
25 |
| Blair và cộng sự |
2011 |
3 |
26 |
| Tilo Nadler |
2010, 2012 |
3 |
25 |
| Roos và cộng sự |
2013, 2014 |
3 |
25 |
Luận án tổng quan các nghiên cứu sinh thái chuyên sâu: sinh thái họ Cu li (Lorisidae) theo Phạm Nhật (2002), Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự (2009); sinh thái giống Chà vá (Pygathrix) theo Rawson và cộng sự (2008), Vũ Ngọc Thành và cộng sự (2008); giống Khỉ (Macaca) theo Htun và cộng sự (2008); sinh thái Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki) theo Rawson và cộng sự (2011).
Về mật độ quần thể giống Trachypithecus, văn bản dẫn chứng số liệu của Thào A Tung (2018) tại Đồng Hóa và Thạch Hóa đạt 0,522 cá thể/ha; Haus và cộng sự (2009) tại Vườn Quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng ghi nhận 0,025 cá thể/ha; Leca và cộng sự (2013) tại VQG Tây Bali (Indonesia) ghi nhận mật độ Trachypithecus auratus là 0,071 cá thể/ha. Về mật độ quần thể giống Nomascus, nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải và Đặng Huy Huỳnh (2015) ghi nhận Nomascus leucogenys tại Khu BTTN Xuân Liên đạt 0,78 đàn/km²; Vũ Tiến Thịnh và Đồng Thanh Hải (2011) ghi nhận Nomascus annamensis tại Khu BTTN Kon Chư Răng đạt 0,22 đàn/km²; Hà Thăng Long và cộng sự (2011) và Nguyễn Ái Tâm và cộng sự (2017) ghi nhận mật độ Nomascus annamensis tại VQG Kon Ka Kinh lần lượt là 0,12 đàn/km² và 0,112 đàn/km².
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là xác lập sự hiện diện chắc chắn của 9 loài linh trưởng, làm rõ sự hiện diện của Khỉ mốc thông qua tư liệu ảnh thực địa, xây dựng bản đồ phân bố bằng công nghệ GIS, đồng thời xác định định lượng cấu trúc 4 dạng sinh cảnh và mật độ của Voọc hà tĩnh cùng Vượn siki tại Bắc Hướng Hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết thích nghi hình thái và sinh thái học Linh trưởng của Fleagle (1999), Groves (2001), Phạm Nhật (2002), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2008). Các thích nghi vận động leo trèo trên cây được xác định thông qua cấu trúc khớp động đai vai, xương đòn, bàn tay 5 ngón với ngón cái đối diện, thể tích hộp sọ mở rộng, mắt nhìn hai thị trường hướng về phía trước, bộ răng gồm 32–36 chiếc thích nghi ăn tạp thiên thực vật (lá, quả), cùng sự phân hóa ổ sinh thái theo các tầng tán rừng nhiệt đới. Luận án sử dụng hệ thống phân loại thảm thực vật rừng tự nhiên của Thái Văn Trừng (1978) để khảo sát sinh cảnh và phương pháp đánh giá mối đe dọa của Margoluis và Salafsky (2001).
Phương pháp thu thập dữ liệu thực địa kết hợp điều tra định tính và định lượng:
- Phương pháp phỏng vấn: Triển khai 85 phiếu phỏng vấn định hướng và bán định hướng sử dụng ảnh màu nhận diện, phát cho 5 cán bộ kỹ thuật Ban quản lý Khu bảo tồn, 10 kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa, 20 thành viên tổ bảo vệ rừng và 50 người dân địa phương tại 5 xã vùng đệm (10 người/xã).
- Phương pháp điểm nghe (Listening points): Áp dụng riêng cho Vượn siki dựa trên đặc tính phát tiếng hót định lãnh thổ vào sáng sớm. Thiết lập 22 điểm nghe trên các đỉnh cao, dông núi với khoảng cách 1–1,5 km. Mỗi điểm nghe bố trí 3 nhóm độc lập ở 3 đỉnh cao xung quanh, ghi nhận từ 05h00 đến 09h30 (mùa hè) và 05h30 đến 10h00 (mùa đông), thực hiện lặp lại 3 ngày liên tục. Xác định đàn và cá thể dựa vào góc phương vị, khoảng cách ước lượng và cấu trúc tiếng hót bè của các cá thể trưởng thành.
- Phương pháp điều tra theo tuyến thẳng góc: Thiết lập 22 tuyến điều tra cắt qua các dạng sinh cảnh với tổng chiều dài 68,75 km (chiều dài từng tuyến dao động từ 1,19 km đến 5,26 km). Tốc độ di chuyển 1–1,5 km/h, thực hiện từ sau giờ điểm nghe đến 17h00. Ghi nhận cự ly quan sát trực tiếp ($r$), góc lệch tuyến ($\alpha$) và khoảng cách vuông góc từ tuyến đến cá thể hoặc đàn ($X$).
- Phương pháp điều tra tuyến ban đêm: Dành riêng cho họ Cu li (Lorisidae), tiến hành từ 18h30 đến 00h00 với tốc độ di chuyển 0,5–0,8 km/h. Sử dụng đèn pin đội đầu tìm kiếm phản xạ mắt trên tán cây, dùng đèn rọi và ống nhòm để định loại và máy ảnh ghi lại tư liệu.
- Phương pháp bẫy ảnh: Đặt 9 máy bẫy ảnh tự động Bushnell Trophy Cam tại các vị trí bằng phẳng, gần nguồn nước, thức ăn và lối mòn của thú. Chiều cao đặt máy cách mặt đất 30–40 cm, cài đặt cảm biến hồng ngoại không phát ánh sáng trắng, độ trễ chụp 1 giây. Tổng thời gian bẫy ảnh đạt 55.427 giờ máy, thu thập trên 7.000 bức ảnh và 851 ghi nhận độc lập của 26 loài động vật rừng.
- Phương pháp điều tra sinh thái thảm thực vật theo ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 25 OTC kích thước 25 m x 40 m ($1.000\text{ m}^2$/ô) phân bố đại diện theo 4 dạng sinh cảnh chính của khu bảo tồn. Đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) $\ge 6\text{ cm}$ và chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), xác định tổ thành loài, tầng tán và cây thức ăn của linh trưởng.
| Ký hiệu |
Dạng sinh cảnh |
Diện tích (ha) |
Số lượng OTC |
| SC1 |
Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất nghèo |
5.085,4 |
3 |
| SC2 |
Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất trung bình |
10.101,4 |
13 |
| SC3 |
Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất giàu |
2.480,4 |
5 |
| SC4 |
Rừng núi đá có cây |
832,2 |
4 |
| Tổng cộng |
|
18.499,4 |
25 |
- Xử lý số liệu và bản đồ: Số liệu được xử lý thống kê sinh học lâm nghiệp, xây dựng bản đồ phân bố các loài linh trưởng bằng phần mềm Hệ thông tin địa lý (GIS).
Nội dung chính theo từng chương
Phần Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa – vùng lõi sinh thái sườn Tây Trường Sơn. Xác định 4 mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Nêu tóm tắt 3 đóng góp mới về thành phần loài, bản đồ phân bố GIS và dữ liệu định lượng sinh thái, mật độ quần thể. Giới thiệu kết cấu toàn văn luận án gồm 121 trang, 31 bảng biểu, 15 hình vẽ/bản đồ, 107 tài liệu tham khảo (54 tiếng Việt, 53 tiếng nước ngoài) và 36 ảnh minh họa.
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp cơ sở lý luận về đặc điểm hình thái tiến hóa và cấu tạo giải phẫu thích nghi đời sống leo trèo của bộ Linh trưởng. Khái quát các hệ thống phân loại linh trưởng tại Việt Nam qua các thời kỳ, phân tích căn cứ lựa chọn danh mục 25 loài theo Roos và cộng sự (2014). Phân tích đặc điểm phân bố địa lý và hiện trạng bảo tồn của các loài linh trưởng Việt Nam theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2019), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Công ước CITES (2019). Điểm lại các nghiên cứu về sinh thái học họ Cu li (Lorisidae), giống Chà vá (Pygathrix), giống Khỉ (Macaca), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki). Dẫn giải số liệu so sánh mật độ quần thể các loài thuộc giống Trachypithecus và họ Vượn (Hylobatidae) trong nước và quốc tế. Tổng hợp lịch sử điều tra khu hệ linh trưởng tại tỉnh Quảng Trị từ năm 2006 đến 2018, chỉ ra các khoảng trống khoa học cần làm rõ.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và 4 nội dung nghiên cứu chính. Thống kê kế hoạch thực địa gồm 4 đợt với 247 ngày làm việc và 688 ngày công. Mô tả chi tiết quy trình kỹ thuật của các phương pháp: phỏng vấn cộng đồng (85 phiếu), điều tra điểm nghe Vượn siki (22 điểm nghe), điều tra 22 tuyến thẳng góc ban ngày (chiều dài 68,75 km với bảng tọa độ điểm đầu - cuối), điều tra tuyến ban đêm cho họ Cu li, đặt 9 máy bẫy ảnh tự động (đạt 55.427 giờ máy ghi nhận). Trình bày phương pháp điều tra cấu trúc sinh thái rừng bằng 25 OTC ($1.000\text{ m}^2$/ô) phân bố trên 4 dạng sinh cảnh chính (SC1–SC4) theo hệ thống thảm thực vật của Thái Văn Trừng (1978). Quy định phương pháp đánh giá định lượng các mối đe dọa theo Margoluis và Salafsky (2001) và kỹ thuật xử lý số liệu, xây dựng bản đồ GIS.
Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Trình bày các đặc trưng điều kiện tự nhiên của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa: vị trí địa lý nằm ở sườn Tây Trường Sơn, đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp với hai đỉnh cao Sa Mù (1.550 m) và Voi Mẹp (1.707 m); hệ thống phân vùng tiểu khí hậu, lượng mưa, mạng lưới thủy văn suối nguồn và các nhóm đá mẹ thổ nhưỡng. Phân tích hiện trạng tài nguyên rừng và các kiểu thảm thực vật ưu thế. Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội, cấu trúc và mật độ dân cư của 5 xã giáp ranh vùng đệm (Hướng Linh, Hướng Sơn, Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập) và các thôn bản nằm trong vùng lõi khu bảo tồn (thôn Cuôi, Tri, Cợp), làm rõ các tập quán đi rừng, canh tác nương rẫy ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Thành phần loài và phân bố: Luận án khẳng định khu hệ Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa gồm 9 loài thuộc 3 họ. Cung cấp bằng chứng ảnh chụp bẫy ảnh xác thực sự hiện diện của loài Khỉ mốc (Macaca assamensis). Phân tích sự thay đổi thành phần loài theo thời gian và so sánh với các khu bảo tồn lân cận. Xây dựng bản đồ phân bố không gian chi tiết cho từng loài linh trưởng dựa trên dữ liệu tọa độ GPS từ các tuyến điều tra và bẫy ảnh.
- Mật độ quần thể: Trình bày tần suất bắt gặp các loài trên tuyến điều tra; tính toán và công bố mật độ quần thể của loài Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) tại sinh cảnh núi đá và Vượn siki (Nomascus siki) thông qua dữ liệu 22 điểm nghe; so sánh tương quan mật độ với các quần thể khác tại Việt Nam và khu vực.
- Đặc điểm sinh thái: Phân tích quy luật phân bố của các loài linh trưởng theo các đai độ cao địa hình, điều kiện vi khí hậu, mạng lưới thủy văn, nhóm thổ nhưỡng và 4 kiểu thảm thực vật rừng (SC1 đến SC4). Phân tích các chỉ tiêu cấu trúc rừng từ 25 OTC: tổ thành tầng cây cao theo số cây, phân bố số cây theo cấp đường kính ($D_{1.3}$), phân bố số cây theo cấp chiều cao ($H_{vn}$), xác định các loài cây ưu thế. Tổng hợp danh mục các họ và loài thực vật làm thức ăn của linh trưởng, phân tích phổ thức ăn của 3 loài linh trưởng quan trọng.
- Mối đe dọa và giải pháp bảo tồn: Lượng hóa mức độ tác động của các mối đe dọa (săn bắn, bẫy bắt, phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản phụ, chia cắt sinh cảnh bởi tuyến giao thông đường Hồ Chí Minh) theo khung Margoluis và Salafsky (2001). Đề xuất 5 nhóm giải pháp bảo tồn: 1) Bảo vệ loài hiện có; 2) Nâng cao nhận thức cộng đồng; 3) Cải thiện sinh kế cho người dân địa phương; 4) Phục hồi rừng và kết nối sinh cảnh; 5) Hoạt động nghiên cứu khoa học.
Phần Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Tóm tắt các kết quả đạt được về số loài, mật độ, đặc điểm sinh thái cấu trúc sinh cảnh và các mối đe dọa. Nêu các mặt tồn tại về phạm vi khảo sát di truyền phân tử và đề xuất các kiến nghị quản lý, bảo vệ thực địa đối với Ban quản lý Khu bảo tồn và các cơ quan chức năng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và lý luận:
- Luận án cung cấp các dẫn liệu khoa học có hệ thống về mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái học (đai độ cao, tiểu khí hậu, thổ nhưỡng, cấu trúc thảm thực vật) với đặc tính phân bố, mật độ quần thể và tần suất bắt gặp của khu hệ linh trưởng tại vùng sinh thái chuyển tiếp sườn Tây Trường Sơn.
- Đóng góp bộ số liệu thực nghiệm đo đếm từ 25 ô tiêu chuẩn ($25.000\text{ m}^2$) về phân bố đường kính, chiều cao tầng tán và danh lục thực vật thức ăn của các loài linh trưởng nguy cấp.
Về mặt thực tiễn:
- Khẳng định sự hiện diện chính thức của 9 loài linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa. Đặc biệt, luận án đã ghi nhận và khẳng định chắc chắn bằng hình ảnh thực địa sự có mặt của loài Khỉ mốc (Macaca assamensis) – loài trước đây chưa được các chương trình điều tra của Viet Nature và các tổ chức ghi nhận chắc chắn.
- Xây dựng bản đồ phân bố không gian của các loài linh trưởng tại khu bảo tồn bằng công nghệ GIS, hỗ trợ trực tiếp công tác tuần tra, giám sát tài nguyên đa dạng sinh học của lực lượng Kiểm lâm.
- Xác định mật độ quần thể của hai loài ưu tiên bảo tồn là Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki).
- Đề xuất 5 nhóm giải pháp bảo tồn có tính ứng dụng thực tế:
- Bảo vệ loài hiện có: Tăng cường tuần tra, tháo gỡ bẫy, bảo vệ nghiêm ngặt các dải rừng núi đá và rừng thường xanh giàu.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng: Tổ chức tuyên truyền pháp luật bảo vệ động vật hoang dã cho các cộng đồng thôn bản giáp ranh.
- Cải thiện sinh kế cho người dân địa phương: Phát triển mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, giảm áp lực phụ thuộc vào khai thác rừng tại các xã vùng đệm và vùng lõi (thôn Cuôi, Tri, Cợp).
- Phục hồi rừng và kết nối sinh cảnh: Xây dựng các hành lang xanh kết nối các mảng rừng bị chia cắt bởi tuyến đường giao thông Hồ Chí Minh và khu vực canh tác.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học: Duy trì chương trình giám sát bẫy ảnh định kỳ, lập đường dây quan trắc biến động quần thể dài hạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án chưa thực hiện phân tích sinh học phân tử (DNA) để phân định ranh giới di truyền chính xác giữa hai loài Vượn siki (Nomascus siki) và Vượn má hung trung bộ (Nomascus annamensis) tại vùng giao thoa địa lý sông Thạch Hãn (Quảng Trị), mà kế thừa định danh hình thái theo phân loại của Roos và cộng sự (2014).
- Phạm vi sinh cảnh rừng trên núi đá vôi có diện tích tương đối nhỏ (832,2 ha) và bị chia cắt bởi tuyến đường Hồ Chí Minh, gây khó khăn cho việc quan sát toàn diện đường di chuyển của Voọc hà tĩnh.
- Một phần số liệu ghi nhận ban đầu dựa vào phỏng vấn dân sinh, phụ thuộc vào trí nhớ và kinh nghiệm nhận diện của người dân địa phương dù đã được kiểm chứng lại bằng tuyến điều tra và bẫy ảnh.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai nghiên cứu di truyền học quần thể và âm học chuyên sâu để xác định chính xác cấu trúc di truyền của các đàn Vượn tại Quảng Trị.
- Nghiên cứu động thái biến động thức ăn theo mùa của Voọc hà tĩnh và Chà vá chân nâu nhằm phục vụ các giải pháp phục hồi sinh cảnh cục bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Động vật học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra động vật rừng, kết hợp đồng bộ giữa phương pháp điểm nghe tiếng hót (cho loài vượn), tuyến thẳng góc, bẫy ảnh tự động và kỹ thuật lập ô tiêu chuẩn đo đếm cấu trúc thực vật thảm rừng.
- Ban quản lý Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch quản lý bảo tồn đa dạng sinh học dài hạn, thiết lập các tuyến tuần tra trọng điểm và khoanh vùng bảo vệ các sinh cảnh xung yếu.
- Các tổ chức phi chính phủ và dự án bảo tồn quốc tế (WWF, BirdLife, Viet Nature): Sử dụng bản đồ phân bố GIS và dữ liệu mật độ quần thể của Voọc hà tĩnh và Vượn siki để phân bổ nguồn lực tài trợ, thiết kế các hành lang sinh thái kết nối xuyên biên giới với Lào.
- Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án: Chương 2 (hệ thống thiết kế 22 tuyến điều tra, 22 điểm nghe và 25 OTC) và Chương 4 (các bảng phân tích định lượng cấu trúc lâm phần $D_{1.3}$, $H_{vn}$, danh mục loài cây thức ăn và đánh giá thứ bậc các mối đe dọa).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và loài nào được bổ sung bằng chứng chắc chắn nhất?
Luận án ghi nhận và khẳng định sự có mặt của 9 loài Linh trưởng thuộc 3 họ (Lorisidae, Cercopithecidae, Hylobatidae). Đóng góp nổi bật là đã khẳng định chắc chắn bằng hình ảnh bẫy ảnh về sự có mặt của loài Khỉ mốc (Macaca assamensis), giải quyết được những nghi vấn và bất đồng trong các báo cáo điều tra trước đó.
2. Luận án áp dụng hệ thống phân loại linh trưởng nào và xác định loài vượn tại Bắc Hướng Hóa là loài gì?
Luận án sử dụng hệ thống phân loại linh trưởng châu Á của Roos và cộng sự (2014) làm cơ sở nghiên cứu (công nhận Việt Nam có 25 loài và phân loài linh trưởng thuộc 3 họ). Dựa trên phân loại học và các nghiên cứu chuyên sâu, luận án khẳng định loài vượn phân bố tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa là Vượn siki (Nomascus siki).
3. Khối lượng và phương pháp điều tra Vượn siki và bẫy ảnh được thực hiện với quy mô như thế nào?
Để điều tra Vượn siki, luận án thiết lập 22 điểm nghe trên các đỉnh cao, dông núi, bố trí 3 nhóm nghe độc lập tại mỗi điểm, thực hiện lặp lại 3 ngày liên tục vào sáng sớm (05h00–09h30 mùa hè; 05h30–10h00 mùa đông). Đối với điều tra bẫy ảnh, đề tài lắp đặt 9 máy bẫy ảnh tự động Bushnell Trophy Cam cách mặt đất 30–40 cm, hoạt động tích lũy đạt 55.427 giờ máy, thu được hơn 7.000 ảnh và 851 ghi nhận độc lập của 26 loài động vật rừng.
4. Cấu trúc sinh cảnh rừng của Linh trưởng được đánh giá thông qua bao nhiêu ô tiêu chuẩn và dạng sinh cảnh nào chiếm diện tích lớn nhất?
Cấu trúc sinh cảnh được đánh giá thông qua 25 ô tiêu chuẩn kích thước 25 m x 40 m ($1.000\text{ m}^2$/ô) trải đều trên 4 dạng sinh cảnh theo hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng (1978). Trong đó, dạng sinh cảnh Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất trung bình (SC2) chiếm diện tích lớn nhất với 10.101,4 ha (bố trí 13 OTC), tiếp đến là SC1 (5.085,4 ha, 3 OTC), SC3 (2.480,4 ha, 5 OTC) và nhỏ nhất là SC4 – Rừng núi đá có cây (832,2 ha, 4 OTC).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Thái Văn Thành là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về khu hệ Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa điều tra tuyến thẳng góc, bẫy ảnh tự động, điểm nghe âm học và ô tiêu chuẩn cấu trúc thảm thực vật, luận án đã xác thực thành phần 9 loài linh trưởng, lập bản đồ phân bố GIS và xác định mật độ quần thể của Voọc hà tĩnh cùng Vượn siki. Các kết quả phân tích cấu trúc sinh thái và định lượng mối đe dọa cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại sườn Tây dãy Trường Sơn.