Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Mục tiêu, nội dung, địa điểm, đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Mô ̣t số khái niêm ̣ 1. Quản lý rừng bền vững Theo Tổ chức Quốc tế gỗ nhiệt đới (ITTO, 2004) “ Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt đƣợc một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng nhƣ đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất trong tƣơng lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trƣờng tự nhiên và xã hội”. Quản lý bảo vệ rừng bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể nhƣ sản xuất gỗ nguyên liệu, lâm sản ngoài gỗ, bảo vệ môi trƣờng, bảo vệ đầu nguồn nƣớc, chống cát bay, chống sạt lở đất.
Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trƣờng, cụ thể: bền vững kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng xuất và hiệu quả ngày càng cao, khai thác rừng hợp lý, duy trì và phát triển diện tích, trữ lƣợng rừng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng xuất rừng; bền vững về mặt xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng theo đúng luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng nhƣ mối quan hệ tốt với ngƣời dân, cộng đồng địa phƣơng; bền vững về môi trƣờng là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì đƣợc khả năng phòng hộ và tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với hệ sinh thái khác. Rừng, mất rừng và suy thoái rừng Rừng theo Thông tƣ số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 về quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, đƣợc định nghĩa theo 3 tiêu chí: i) là hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên, rừng mới trồng có chiều cao trên 1,5 mét đối với loài cây sinh trƣởng chậm, trên 3 mét đối với loài cây sinh trƣởng nhanh và mật độ từ 1000 cây/ha trở lên; ii) độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên; iii) diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. 4 Mất rừng là việc chuyển đổi lâu dài hoặc vĩnh viễn từ đất có rừng sang không còn rừng. Theo Công ƣớc khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC, 2003), mất rừng đƣợc định nghĩa là “sự chuyển đổi do tác động trực tiếp của con ngƣời từ đất rừng thành đất không có rừng”.
Suy thoái rừng là sự thay đổi mang tính tiêu cực ảnh hƣởng đến cấu trúc hoặc chức năng của rừng, từ đó làm suy giảm khả năng cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ rừng. Thuật ngữ suy thoái rừng mô tả tình trạng của một khu rừng đã bị suy giảm xuống dƣới khả năng tự nhiên của nó, nhƣng độ che phủ không dƣới ngƣỡng 20% (tức là chƣa đủ điều kiện để đƣợc coi là rừng bi ̣phá). Cộng đồ ng số ng phụ thuộc rừng Theo Đinh Đức Thuận (2005) cộng đồng sống phụ thuộc rừng bao gồm: - Các cộng đồng thôn bản nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, khu vực biên giới có nhiều diện tích đất đƣợc chính thức xếp vào khu vực rừng phòng hộ. - Những diện tích do các Lâm trƣờng quốc doanh hoặc Ban quản lý rừng đầu nguồn là chủ sở hữu ban đầu và các diện tích trong một số hoàn cảnh cụ thể giao cho các cán bộ công nhân viên cũ hoặc đƣơng nhiệm và những cộng đồng bản địa ở những khu vực này.
- Xã và thôn bản nằm ở ranh giới hoặc trong khu vực rừng đặc dụng, vƣờn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao, có các qui định và lệnh cấm đặc biệt đối với giao đất giao rừng và sử dụng các sản phẩm rừng. - Cộng đồng dân cƣ sống phụ thuộc vào những sản phẩm từ rừng. Sinh kế Theo Cơ quan phát triển quốc tế (DFID, 2001), Sinh kế có thể đƣợc mô tả nhƣ tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan tới các quyết định và hoạt động của một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời nhằm cố gắng kiếm sống và đạt đƣợc các mục tiêu, mơ ƣớc của mình. Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực: Con ngƣời - Xã hội - Tự nhiên - Vật chất - Tài chính) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống.
Sinh kế của ngƣời dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng có thể đƣợc duy trì và nâng cao để đối phó và vƣợt qua những khó khăn nội tại cũng nhƣ từ bên ngoài mà không làm ảnh hƣởng đến tài nguyên rừng. 5 Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD, 2004) đã nghiên cứu và phát triển một bộ khái niệm về Khung sinh kế bền vững. Khung sinh kế này đƣợc đánh giá là một công cụ hỗ trợ giúp cho việc nghiên cứu và tiếp cận phát triển sinh kế bền vững. Con ngƣời Xã hội Tự nhiên Vật chất Tài chính Hình 1.1: Khung sinh kế “Nguồ n: Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế IFAD” Trên thực tế, việc đảm bảo và duy trì cuộc sống hàng ngày là điều rất quan trọng đối với ngƣời dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng.
Việc phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân là rất cần thiết nhằm giúp họ ổn định cuộc sống và khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào công tác bảo vệ và quản lý rừng. Phát triển bền vững Uỷ ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) "Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng đƣợc những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hƣởng, tồn tại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển kinh tế có hiệu quả, xã hội công bằng và môi trƣờng đƣợc bảo vệ. Để đạt đƣợc điều này, tất cả các thành phần kinh tế, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội phải cùng nhau hợp tác nhằm dung hòa, đáp ứng đồng thời cả 3 mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trƣờng.
Tổ ng quan các vấ n đề liên quan đế n sinh kế và quản lý rƣ̀ng 1. Quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng Quản lý rừng cộng đồng đã hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với đời sống, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cƣ. Mô hình này đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau, rừng đƣợc giao cho thôn bản, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý. Quản lý rừng cộng đồng nhằm tăng cƣờng lợi ích của ngƣời dân trong vùng rừng và duy trì tính bền vững của tài nguyên rừng.
Qua đó, phát huy đƣợc vai trò của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các hộ gia đình và cộng đồng dân cƣ sống gần rừng, có đời sống phụ thuộc vào rừng tham gia quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Quản lý rừng cộng đồng cần phải đảm bảo cho cộng đồng tham gia quản lý rừng, sống đƣợc nhờ rừng cũng nhƣ duy trì đƣợc tính bền vững của nguồ n tài nguyên rừng. Chính phủ Việt Nam cũng đã xây dựng, ban hành và hoàn thiện các khung pháp lý nhằm thúc đẩy thực thi quản lý rừng cộng đồng bền vững nhƣ: “Luật Đất đai 2013”, “Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004”, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ quy định rõ quyền hƣởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân đƣợc giao, đƣợc thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm phát huy vai trò và tăng cƣờng sự phối kết hợp của các bên liên quan trong công tác bảo vệ, quản lý rừng.
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân. Nhƣ vậy, các cơ quan của Nhà nƣớc, các tổ chức, các cộng đồng, các hộ gia đình và các cá nhân phải bảo vệ rừng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ rừng. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy định rằng “việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng phải đảm bảo dân chủ, công khai” (Khoản 4, Điề u 13, Luâ ̣t Bảo vê ̣ và Phát triển rừng 2004). Luật Đất đai cũng quy định “trong quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất chi tiết, các cơ quan chuyên ngành phải thu thập ý kiến đóng góp, bình luận từ công chúng”.
Quyết định số 106/2006/QĐ- BNN, ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hƣớng dẫn quản lý rừng cộng đồng mô tả chi tiết sự tham gia của cộng đồng thôn bản vào quá 7 trình giao rừng, lập quy hoạch quản lý rừng, xây dựng và thực hiện kế hoạch cũng nhƣ quy định cụ thể quyền lợi và trách nhiệm thực hiện, giám sát và đánh giá quá trình giao rừng của nhà nƣớc đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n ở 40 xã của 10 tỉnh thí điểm lâm nghiệp cộng đồng. Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phƣơng thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam. Luật Đất đai 2013 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 ra đời đã tạo hành lang pháp lý cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng thông qua hình thức giao rừng cho cộng đồng dân cƣ thôn. Lúc này, cộng đồng đƣợc xem là một chủ rừng thực sự, họ đƣợc xác lập quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, thiết lập quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế hƣởng lợi rõ ràng.
Trong những năm qua, nhiều chƣơng trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng của chính phủ, các tổ chức quốc tế đƣợc thực hiện nhiều nơi trên đất nƣớc ta với nhiều hoạt động và đã mang lại những kết quả nhất định. Quản lý rừng cộng đồng theo truyền thống là hình thức quản lý tài nguyên rừng có hiệu quả nhất vì toàn thể những ngƣời sử dụng tài nguyên rừng chia sẻ các quyền và nghĩa vụ trên toàn bộ một khu rừng và đƣa ra những quyết định tập thể để sử dụng tài nguyên một cách thích hợp.