ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài Sự xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên và môi trường đang là một vấn đề toàn cầu. Tác động của chúng ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ lên đời sống của người dân ở các cấp độ khác nhau, từ khu vực cho đến từng cộng đồng và từng nông hộ. Thật vậy, hầu hết người nghèo ở mọi nơi đều có cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và các tiến trình chức năng của hệ sinh thái.
Người dân trong các cộng đồng địa phương vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họ phụ thuộc, điều này đặc biệt đúng đối với người nghèo trong các cộng đồng đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa. Chính vì thế, kinh tế hộ và cuộc sống của họ có thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một biến động nào từ tài nguyên thiên nhiên. Trong việc nghiên cứu sinh kế của các cộng đồng nông thôn, Ủy ban phát triển quốc tế (DFID, 1999) cung cấp một khuôn khổ phân tích, trong đó nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau. Các khía cạnh này thống nhất với nhận định của Lê Trọng Cúc (2003) [3].
Theo đó, nghèo đói và sự bấp bênh về sinh kế xảy ra ở vùng cao không chỉ là do việc thiếu nguồn tài chính mà còn do nhiều nguyên nhân khác, đấy là: sự chia cắt của địa hình, sự khác biệt về ngôn ngữ, sự thiếu thông tin từ bên ngoài, thiếu kỹ thuật, bùng nổ dân số, thiếu nguồn nhân lực được đào tạo và sự tham gia một cách bị động vào các chương trình phát triển, thiếu khả năng lập kế hoạch phát triển và sử dụng sai lầm tài nguyên thiên nhiên (Bùi Dung Thể và cộng sự, 2004). Ngoài ra, việc thiếu đi tính rõ ràng về quyền sở hữu tài sản của cá nhân và cộng đồng ở các khu vực nông thôn cũng là nguyên nhân chính gây ra sự bấp bênh về sinh kế. Những cá nhân không có sự đảm bảo về quyền tiếp cận đến nguồn tài nguyên thì ít khuyến khích họ quản lý đất đai một cách bền vững cho các lợi ích tương lai. Họ không đủ tư cách để vay vốn, không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thể tiếp cận các dịch vụ khuyến nông và không có khả năng tiếp cận thị trường cho việc bán sản phẩm của họ (dẫn từ Nguyễn Thị Kim Tài, 2006 [12]).
Trước thực trạng này, Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác. Do đó, có thể giả thiết rằng, sự hiểu biết cách thức mà người dân nhìn nhận và đánh giá giá trị của tài nguyên thiên nhiên trong việc tạo ra sinh kế là tiền đề để nghiên cứu các động cơ của các nỗ lực quản lý bền vững cơ sở tài nguyên của họ [11]. Từ sau thời điểm “Đổi mới” (1986), nhà nước ta đã ban hành và triển khai hàng loạt chính sách nhằm tăng cường quyền tiếp cận và sở hữu tài nguyên thiên nhiên của người dân trên cả nước nói chung và các cộng đồng dân cư sống trong và gần rừng nói riêng. Luật Đất đai (1993, 1998, 2003), luật Bảo vệ và phát triển rừng (1992 và 2004) đã hỗ trợ đắc lực cho người dân trong việc tự đưa ra những quyết định trên mảnh đất của mình.
Đó là quyền được chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế, cho thuê, quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng, dùng đất góp vốn liên doanh, được đền bù thành quả lao động và kết quả đầu tư theo giá thị trường và hiện trạng sản xuất trong trường hợp bị thu hồi đất, được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách về tài chính và tín dụng; về khuyến khích đầu tư; về định canh định cư; về y tế giáo dục; … nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người dân địa phương có được những nguồn lực để tạo ra một sinh kế bền vững. Cùng với các chính sách trên, chính sách về giao đất khoán rừng (theo Nghị định 01, 02, và 163; Quyết định 327 và 661 của Chính phủ) cho các tổ chức và cá nhân đã đánh dấu một sự thay đổi lớn trong việc cải thiện đời sống của người dân có cuộc sống phụ thuộc vào rừng và tăng độ che phủ rừng trên toàn quốc. Kết quả đạt được từ việc thực hiện những chính sách này đã góp phần đáng kể vào chiến lược phát triển bền vững vùng nông thôn trên phương diện quốc gia.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Cùng với xu hướng này, nhiều nghiên cứu và chương trình về việc cải thiện đời sống của người dân liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp cũng được thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Ngoài ra, các chương trình nghiên cứu còn nhấn mạnh việc tạo động lực khuyến khích những người sử dụng trực tiếp các lợi ích (sản phẩm và dịch vụ) mà tài nguyên rừng cung cấp để họ theo đuổi các phương thức quản lý bền vững. Những kết quả từ các nghiên cứu và chương trình đều có một nhận định chung rằng: khi người dân có được một sinh kế bền vững thì họ sẽ không còn tác động vào tài nguyên rừng, và đến một lúc nào đó họ sẽ thấy được sự cần thiết phải có những biện pháp để quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên này cho việc tạo ra một sinh kế mới [1]. Ở huyện Vĩnh Cửu, cũng đã có một số nghiên cứu và chương trình được triển khai với nhiều nội dung khác nhau.
Các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ tìm kiếm những giải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng, hoặc phân tích mức độ tham gia của người dân trong các chương trình dự án. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu phân tích hệ thống sinh kế của người dân; và cũng chưa có nghiên cứu nào tiến hành tìm hiểu cách thức mà người dân nhìn nhận và đánh giá các giá trị của tài nguyên rừng trong việc tạo ra sinh kế của họ. Theo số liệu điều tra, trên địa bàn xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu hiện có 1.725 hộ dân đang sinh sống. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và rừng trồng chia bình quân theo hộ trên toàn xã là 1,53 ha/hộ và chia bình quân theo khẩu là 0,33 ha/ khẩu.
Diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn xã là 21. Vì lẽ đó, nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đời sống của đa phần người dân ở đây. Do thiếu đất để sản xuất, cộng với những tập quán sinh sống vốn phụ thuộc vào rừng. Điều đó đã dẫn đến tình trạng một bộ phận lớn các hộ dân ở đây vẫn thường xuyên can thiệp bất hợp pháp vào tài nguyên rừng để khai thác lâm sản nhằm thỏa mãn những nhu cầu của gia đình họ.
Nếu thực trạng này vẫn tiếp diễn, rừng trong khu vực sẽ bị suy thoái dần và mất đi những giá trị quý báu của nó trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học hiện nay, để đảm bảo thành công trong quản lý rừng bền vững thì sự tham gia của các cộng đồng dân cư sống trong và gần rừng là rất quan trọng. Như vậy, việc nghiên cứu phát triển kinh kế hộ của cộng đồng địa phương, để hiểu rõ hơn về nhu cầu đời sống có phụ thuộc đến tài nguyên rừng được xem như một yêu cầu tất yếu. Kết quả của việc nghiên cứu có thể làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch quản lý tài nguyên lâu dài có sự tham gia tích cực của người dân sinh sống trong khu vực.
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương có phụ thuộc vào tài nguyên rừng tại xã Mã Đà thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” được đặt ra để tìm hiểu sâu những vấn đề nêu trên bằng cách triển khai một nghiên cứu điển hình tại xã Mã Đà, thuộc Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, vì những lý do mang tính lịch sử mà người dân đã có cuộc sống phụ thuộc vào rừng, tuy nhiên kể từ khi chuyển thành Khu BTTN mà trọng trách bảo tồn đặt lên hàng đầu thì vấn đề có thể đã thay đổi. Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu cách nhìn nhận của người dân trong việc nhận ra và đánh giá về giá trị tài nguyên rừng, từ đó tạo ra cơ sở ban đầu cho các nhóm hộ dân sống trong khu vực có những giải pháp cho sinh kế không chỉ dựa vào tài nguyên rừng. Điều này sẽ tạo ra những động lực khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào việc quản lý bền vững cơ sở tài nguyên cho sinh kế của họ.
Hy vọng rằng, những kết quả thu được từ đề tài này cũng có thể đóng góp thêm tư liệu giúp các nhà chuyên môn, các nhà chức trách có những tham khảo cần thiết trong tiến trình nghiên cứu và thiết kế các hệ thống quản lý nhằm hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cộng đồng nông thôn có được một đời sống bền vững dựa vào cách thức sử dụng và hoạt động quản lý tài nguyên rừng của họ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Câu hỏi cho nghiên cứu Để làm rõ vấn đề khoa học, đề tài đưa ra một số câu hỏi cho nghiên cứu như sau: (1) Người dân địa phương đã và đang phụ thuộc như thế nào vào các nguồn tài nguyên cho cuộc sống của họ? Họ sử dụng trực tiếp các nguồn tài nguyên nào? Ít sử dụng các nguồn nào? Và không can thiệp gì đến nguồn tài nguyên nào? (2) Những khó khăn và thách thức nào có thể xảy ra đối với các nhóm hộ người trong việc phát triển kinh tế gia đình của họ? Có những giải pháp hay chiến lược nào để cải thiện sinh kế mà vẫn bảo vệ được tài nguyên rừng? Đây cũng chính là các trọng tâm của luận văn và là vấn đề nghiên cứu mà đề tài này đã đặt ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về sinh kế và khuôn mẫu của sinh kế bền vững Sinh kế, dưới góc độ cách tiếp cận của người nghèo thực tế luôn đa dạng và phức tạp.