MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài Thế kỷ XXI – thế kỷ của hội nhập và phát triển đất nƣớc, nƣớc ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại (theo [65]). Vì vậy, nâng cao chất lƣợng con ngƣời Việt Nam, bao gồm việc cải tạo các chỉ tiêu sinh học và nâng cao năng lực trí tuệ là rất quan trọng, nhằm đào tạo ra những con ngƣời có năng lực đáp ứng nhu cầu xây dựng xã hội mới. Với tiêu chí giáo dục toàn diện cho học sinh ở mọi lứa tuổi, ngành Giáo dục và Đào tạo đang trên con đƣờng đổi mới nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học bằng cách không ngừng nâng cao cơ sở vật chất, đổi mới nội dung chƣơng trình, trang thiết bị dạy học, phƣơng pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá - tuyển sinh,. Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả khi áp dụng đúng với từng đối tƣợng học sinh, phù hợp với năng lực nhận thức ở từng lứa tuổi.
Do đó, nghiên cứu về các đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh là rất cần thiết. Các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ có thể coi là hai mặt cùng phát triển trong quá trình đào tạo con ngƣời mới, phục vụ cho nền kinh tế tri thức hiện nay. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ trên các đối tƣợng học sinh, sinh viên [1, 2, 5, 8, 10, 12, 14, 20, 21, 41, 55, 61, 65, 87]. Đặc biệt là nhóm đề tài “Nghiên cứu các chỉ tiêu thể lực và trí tuệ ở học sinh” do Tạ Thúy Lan làm chủ nhiệm đề tài [47, 50] và nhóm đề tài “Đặc điểm sinh thể, tình trạng dinh dƣỡng và biện pháp nâng cao chất lƣợng sức khỏe” do Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [78-80].
Một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu các chỉ số sinh học trên đối tƣợng là ngƣời dân tộc thiểu số ở nƣớc ta. Trong đó có Nguyễn Đình Khoa [45], Đào Huy Khuê [46], Trần Văn Dần và cs [10-11], Nguyễn Văn Lực [60], Nguyễn Yên [92], Nguyễn Đình Học [30], Đỗ Hồng Cƣờng [8], Hoàng Quý Tỉnh [76],. Tuy nhiên những nghiên cứu này còn ít, chƣa phản ánh đầy đủ về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học đa dân tộc ở nƣớc ta hoặc là đã đƣợc tiến hành khá lâu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của nƣớc ta hiện nay. Do đó cần có những nghiên cứu tiếp trên các đối tƣợng thuộc các dân tộc ít ngƣời đang sinh sống tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa trên cả nƣớc.
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa có diện tích tự nhiên 6888 km2, dân số hơn 75 vạn ngƣời với 30 dân tộc anh em. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 54%, dân tộc Tày chiếm 17%, dân tộc Dao chiếm 9,1%, dân tộc H’mông chiếm 8,1%, dân tộc Thái chiếm 6,1%, còn lại 5,7% là các dân tộc khác [120]. Những nghiên cứu về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học của các đối tƣợng học sinh trên địa bàn này là rất cần thiết. Qua đó chúng ta có đƣợc các dữ liệu khoa học phục vụ cho việc đề xuất các giải pháp đúng đắn và hữu hiệu trong hoạch định chiến lƣợc hoặc cải tiến phƣơng pháp giáo dục, rèn luyện thể chất, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lƣợng con ngƣời Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số vùng cao nói riêng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ.
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh từ 6 đến 17 tuổi, người dân tộc Kinh, H’mông, Dao ở tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu của đề tài - Xác định một số đặc điểm hình thái và chức năng (tuần hoàn, hô hấp, phản xạ) của học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay; - Đánh giá một số đặc điểm về năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc theo lứa tuổi và giới tính; - Xác định mối liên quan giữa chiều cao đứng với các thông số hô hấp, giữa IQ với trí nhớ ngắn hạn, độ tập trung chú ý, phản xạ cảm giác - vận động, cảm xúc và với khả năng vƣợt khó của học sinh. Những điểm mới của đề tài Đã xác định đƣợc: - Thực trạng và sự phát triển một số đặc điểm hình thái - thể lực, chức năng tuần hoàn, hô hấp, thần kinh và năng lực trí tuệ của học sinh các dân tộc Kinh, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com H’mông, Dao lứa tuổi từ 6 đến 17 tại tỉnh Yên Bái. Những số liệu này chƣa có trong bất cứ nghiên cứu nào từ 20 năm trở lại đây.
- Tốc độ tăng trƣởnghình thái không đồng đều qua các lớp tuổi của học sinh trong quá trình tăng trƣởng, từ đó có thể đề xuất các giải pháp phù hợp cho mỗi giai đoạn tăng trƣởng khác nhau nhằm nâng cao chất lƣợng hình thái ngƣời các dân tộc khác nhau tại Việt Nam. - Sự phân bố theo mức trí tuệ của học sinh giữa các dân tộc cho thấy tỷ lệ học sinh đạt mức IQ trên trung bình và xuất sắc ở học sinh H’mông có giá trị lớn hơn so với ở học sinh Kinh và Dao. Đây là những dữ liệu rất có ý nghĩa cho các nhà quản lý giáo dục trong việc tạo môi trƣờng học tập thuận lợi cho con em các dân tộc đƣợc phát huy tiềm năng trí tuệ của mình để góp phần xóa bỏ khoảng cách về chất lƣợng giáo dục giữa học sinh vùng thấp và học sinh dân tộc thiểu số ở vùng cao. - Một số chỉ số trí tuệ có mối tƣơng quan với nhau, trên cơ sở các kết quả này giúp cho giáo viên ứng dụng vào thực tiễn dạy học theo phƣơng pháp phân hóa và phát triển năng lực, năng khiếu bẩm sinh của cá nhân học sinh.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Ở TRẺ EM Giai đoạn trẻ em là giai đoạn cơ thể đang sinh trƣởng và phát triển. Quá trình sinh trƣởng chỉ sự tăng về kích thƣớc, khối lƣợng của toàn bộ hoặc từng bộ phận của cơ thể do tăng số lƣợng hoặc kích thƣớc tế bào.
Quá trình phát triển bao gồm sự biệt hóa về hình thái và biến đổi chức năng của từng bộ phận hoặc các mô của cơ thể, đƣợc hình thành chủ yếu trong mối tƣơng tác với môi trƣờng, cũng nhƣ chịu sự chi phối của tính di truyền. Sinh trƣởng là tiền đề cho phát triển. Ở giai đoạn trẻ em, quá trình sinh trƣởng và phát triển diễn ra không đều theo lứa tuổi, có giai đoạn sinh trƣởng nhanh xen kẽ với các giai đoạn sinh trƣởng chậm, mỗi giai đoạn có những đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý khác nhau. Sự tăng trưởng ở trẻ em từ 6 tuổi cho đến trước tuổi dậy thì.
Ở giai đoạn này quá trình sinh trƣởng diễn ra tƣơng đối đồng đều, trung bình mỗi năm chiều cao tăng khoảng 4 – 5 cm và cân nặng tăng thêm 2 – 3 kg. Các cơ bắp ở tay và chân phát triển mạnh, nên động tác phát triển mạnh mẽ. Nhƣng ở đầu của giai đoạn này, các cơ nhỏ chƣa hoàn thiện nên các động tác của các em chƣa khéo léo, còn vụng về. Sau 8 tuổi, các động tác trở nên chính xác hơn.
Cuối thời kỳ này có sự phân biệt về tăng trƣởng theo giới tính, bắt đầu tăng trƣởng mạnh về chiều cao ở cả 2 giới, nhƣng tốc độ tăng trƣởng ở nữ cao hơn so với ở nam. Đến 10 tuổi, nữ vƣợt nam về chiều cao, cân nặng, tạo thành điểm giao chéo thứ nhất của đƣờng cong tăng trƣởng (theo [55]). Sự tăng trưởng của trẻ em ở giai đoạn dậy thì. Ở giai đoạn này, ngoài tác động của các yếu tố dinh dƣỡng và môi trƣờng nhƣ giai đoạn đầu, sự tăng trƣởng còn chịu ảnh hƣởng của sự trƣởng thành tính dục.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bƣớc vào tuổi dậy thì, tuyến yên tiết ra lƣợng lớn hormon FSH (Follicle stimulating hormone) và hormon LH (Luteinazing hormone) có tác dụng kích thích chức năng của buồng trứng (nếu là nữ), tinh hoàn (nếu là nam). Sau đó, buồng trứng tăng cƣờng sản xuất estrogen và progesteron, còn tinh hoàn sẽ sản xuất testosterone. Những hormon này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài: biến đổi mạnh về vóc dáng cơ thể, phát triển cơ quan sinh dục. Các đặc điểm giới tính khác nhƣ lông, râu, ngực trở nên rõ rệt, các em gái bắt đầu có kinh nguyệt, các em trai có hiện tƣợng xuất tinh [40].
Sự tăng đột biến về chiều cao là do sự phát triển nhanh của các xƣơng dài ở chân, tay. Sự tăng đột biến về chiều cao có khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy ra ở độ tuổi khác nhau, thƣờng gặp sớm hơn ở các em gái. Ở giai đoạn này, giữa các phần của cơ thể nhƣ thân mình, chân, tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn. Ở các em gái bắt đầu có sự tăng lƣợng mỡ ở ngực, chậu hông và sau vai.
Ở các em trai có sự phát triển và tăng lƣợng mỡ ở các khối cơ [41]. Sự tăng đột biến về chiều cao thƣờng xuất hiện sau 2 năm khi có các biểu hiện sinh dục phụ và khoảng 1 năm trƣớc khi có biểu hiện dậy thì hoàn toàn [41]. Sau giai đoạn này, tốc độ tăng trƣởng giảm rõ rệt, đặc biệt sau khi dậy thì hoàn toàn. Tuy nhiên, quá trình tăng trƣởng vẫn tiếp tục cho đến khi cơ thể trƣởng thành.
Quá trình tăng trƣởng ở các em trai diễn ra trong thời gian dài hơn so với ở các em gái vài năm [41]. CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA TRẺ EM 1. Các đặc điểm hình thái – thể lực Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sự tăng trƣởng và phát triển cơ thể con ngƣời đã trở thành môn khoa học đƣợc các nhà nhân học và y học rất quan tâm. Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm tìm biện pháp nâng cao sức khỏe, thể lực cho con ngƣời ở những vùng sinh thái khác nhau, đáp ứng việc phát triển sản xuất và nâng cao chất lƣợng cuộc sống, nhất là thời đại ngày nay.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các thông số về hình thái (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực,.