Tổng quan luận án

Cây tre trúc thuộc họ Hòa thảo (Poaceae hoặc Gramineae), có khoảng 1.250 loài thuộc 75 chi trên toàn cầu, phân bố tại hầu hết các châu lục ngoại trừ châu Âu (Rao and Rao 1995, 1999). Theo thống kê của FAO (2005), diện tích rừng tre thế giới đạt 36,77 triệu ha, riêng châu Á chiếm 23,6 triệu ha. Ở Việt Nam, diện tích tre các loại đạt gần 1,5 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 1,4 triệu ha và rừng trồng đạt gần 74 ngàn ha (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007; dẫn theo Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, 2013). Cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro) là loài tre mọc cụm kích thước lớn, vách thân dày, thân thẳng, ít cành nhánh, cung cấp thân cây làm vật liệu xây dựng, đồ thủ công mỹ nghệ, nguyên liệu chế biến bột giấy, gỗ ép và cho măng làm thực phẩm. Loài này được trồng phân tán trong vườn hộ tại một số xã thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và vườn sưu tập thực vật tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, hoạt động canh tác tại địa phương vẫn mang tính quảng canh dựa vào kinh nghiệm; việc mở rộng diện tích gặp rào cản do phương pháp nhân giống bằng gốc truyền thống có hệ số nhân thấp, người dân chưa tiếp cận được kỹ thuật nhân giống vô tính bằng chiết cành hay giâm hom, đồng thời thiếu các hướng dẫn kỹ thuật thâm canh và chế biến.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

2.1. Mục tiêu tổng quát: Bổ sung một số thông tin mới về đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật gây trồng làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác phát triển loài Bương lông điện biên làm nguyên liệu công nghiệp và thực phẩm ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

  • Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Bương lông điện biên tại khu vực nghiên cứu.
  • Xác định được kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết gốc cành, giâm hom thân và kỹ thuật trồng loài Bương lông điện biên làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển loài cây này tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện điều tra, thí nghiệm và thu thập số liệu từ năm 2013 đến năm 2016 (luận án bảo vệ năm 2017).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học tại 03 xã Nà Tấu, Mường Phăng, Nà Nhạn thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Các thí nghiệm nhân giống (chiết gốc cành, giâm hom thân) và thí nghiệm kỹ thuật trồng (mật độ, bón phân) được thực hiện tại Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ thuộc xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận đặc điểm sinh học, nhân giống và lâm sinh của tre trúc:

  • Về phân bố và sinh thái: Munro (1868) mở đầu việc phân loại phân họ Tre trúc; Gamble (1896) mô tả 151 loài ở Nam Á; Tewari (1992, 2001) xác định 80% diện tích tre trúc thế giới phân bố ở châu Á; Rao and Rao (1995, 1999) phân loại 1.250 loài thuộc 75 chi; Dransfield and Widjaja (1995) công bố khoảng 200 loài thuộc 20 chi ở Đông Nam Á. Liu Jiming (2009) nghiên cứu Trúc núi đá thích nghi ở 5 tiểu sinh cảnh; Zhou Fangchun (2000) khảo sát phân bố thân ngầm theo độ dốc; Fu Maoyi và Xiao Jianghua (1996) xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng gồm nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, cấu trúc rừng.
  • Về kỹ thuật nhân giống: Banik (1985) chiết cành tre vách dày đạt tỷ lệ ra rễ 45 - 56%; Dransfield and Widjaja (1995) ghi nhận chiết cành ở D. giganteus chỉ đạt 10%; Rao and Ramanatha Rao (2000) xử lý cành chiết loài B. longissima với IBA 2.000 ppm nâng tỷ lệ ra rễ lên 54%. Với giâm hom cành, Trung tâm nghiên cứu Tre Trung Quốc (2001) đạt tỷ lệ sống 83,75% khi chọn cành to; Fu Maoyi và cộng sự (2000) khuyến cáo chọn cành 1 - 2 tuổi dài 40 - 50 cm. Với giâm hom thân, Victor Cusack (1997) dùng đoạn thân 1 - 2 đốt dài 1,5 - 2 m; Nautiyal và cộng sự (2008) xử lý hom thân với IBA và NAA đạt tỷ lệ ra rễ 80%. Kỹ thuật nuôi cấy mô tạo phôi xôma được thực hiện bởi Rao và cộng sự (1985, 1990), Rungnagar Pattanavibool (1998), Swarup và Gambhir (2008). Về gieo ươm hạt, Banik (1994) và Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) xác định hạt tre mất sức nảy mầm nhanh, cần bảo quản lạnh 0 - 5°C.
  • Về kỹ thuật gây trồng: Dai Qihui (1998) đề xuất mật độ 100 bụi/ha (10 m x 10 m) cho D. giganteus và tính toán nhu cầu dinh dưỡng để thu 15.000 kg măng tươi/ha cần 75 - 100 kg N, 15 - 22,5 kg P, 37,5 kg K hoặc 37.500 kg phân chuồng/ha. Suwannapinunt and Thaiutsa (1988), Victor Cusack (1997), Alipon và cộng sự (2009) khẳng định bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ làm tăng sản lượng măng và thân cây.
  • Nghiên cứu về loài Dendrocalamus giganteus Munro trên thế giới: Munro (1868) công bố tên loài; Widjaja (1995), Guadua (2010), CCU (2014) và Contu (2013) mô tả thân cây mọc cụm dày, cao 25 - 30 m, đường kính 18 - 30 cm, vách dày 2,5 cm, phân cành từ 1/2 thân cây trở lên, lóng dài 25 - 55 cm; chu kỳ ra hoa từ 29, 40 đến 43 năm; mùa sinh trưởng từ tháng 8 đến tháng 11, thân tăng trưởng nhanh hơn về ban đêm (Osmaston, 1918).

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tre trúc và chi Luồng:

  • Về phân loại và sinh thái: Thái Văn Trừng (1978), Vũ Văn Dũng (1978), Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Tử Ưởng (2001), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) xác định hệ thống phân loại tre trúc; Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007) phân định đai phân bố tre trúc trên và dưới 700 - 800 m; Trần Văn Mão và Trần Ngọc Hải (2006) mô tả 3 dạng thân ngầm (mọc cụm, mọc tản, mọc hỗn hợp); Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2013) tổng kết đặc điểm sinh thái Bương mốc.
  • Về kỹ thuật nhân giống và gây trồng: Lê Quang Liên (2001, 2004) chiết cành Luồng bọc bùn rơm đạt tỷ lệ ra rễ 97,5%; Lê Văn Thành (2013) chiết cành Bương mốc xử lý IBA 1.500 ppm đạt tỷ lệ ra rễ 100%; Hoàng Vĩnh Tường (1977), Ngô Quang Đê và Lê Xuân Trường (2011) giâm hom cành Luồng; Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2013) hướng dẫn tạo giống hom thân gốc cho 5 loài tre; Lê Văn Hòa và cộng sự (2012) tạo phôi soma Tre rồng (Dendrocalamus giganteus) từ nuôi cấy lớp mỏng tế bào chồi non trên môi trường MS. Về lập địa và phân bón, Hoàng Xuân Tý (1972) cảnh báo đất thoái hóa khi trồng tre thuần loài; Đỗ Văn Bản (2005), Phạm Văn Điển và cộng sự (2009) hướng dẫn mật độ và liều lượng phân bón cho Luồng và Bương.
  • Về cây Bương lông điện biên: Loài này từng được Lê Viết Lâm và cộng sự (2005), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) định danh là Dendrocalamus sinicus L.; Nguyễn Văn Thọ (2012) chỉ ra các điểm sai khác hình thái giữa loài này với D. sinicus Chia et Sun. Luận án thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 2012 - 2017 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, qua đó xác định chính xác tên khoa học của Bương lông điện biên là Dendrocalamus giganteus Munro.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Trước đây chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống và toàn diện về đặc tính hình thái, sinh thái học, cấu trúc bụi, quá trình phát sinh măng và sinh trưởng thân khí sinh của Bương lông điện biên tại Việt Nam; đồng thời thiếu vắng các quy trình nhân giống sinh dưỡng vô tính (chiết gốc cành, giâm hom thân) và thực nghiệm kỹ thuật gây trồng (mật độ, bón phân) đối với loài tre này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết phân loại thực vật học tre trúc thuộc chi Luồng (Dendrocalamus); các quy luật sinh thái học lâm nghiệp về mối quan hệ tương tác giữa cây rừng với các yếu tố hoàn cảnh (nhiệt độ, lượng mưa, độ dốc, đặc tính đất feralit, thảm thực vật đi kèm); sinh lý học thực vật về tác động của chất điều hòa sinh trưởng nhóm auxin (IBA, NAA) đến sự hình thành mô sẹo và rễ bất định; và nguyên lý kỹ thuật lâm sinh về điều chỉnh mật độ dinh dưỡng và bổ sung phân bón NPK kết hợp phân hữu cơ trong rừng trồng mọc cụm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận tổng hợp đa ngành, kết hợp điều tra tri thức bản địa với phương pháp thực nghiệm lâm sinh.
  • Phương pháp điều tra sinh học và sinh thái: Lập các ô tiêu chuẩn (OTC) và ô dạng bản (ODB) tại các địa điểm nghiên cứu ở Điện Biên và Phú Thọ. Đo đếm kích thước lóng, độ dày vách thân tại lóng thứ 5 (D05) và tại vị trí 1,3 m (D1.3), số cành chính, mo thân, kích thước lá, hoa, mắt ngủ gốc thân ngầm. Điều tra diễn biến xuất hiện măng và sinh trưởng thân khí sinh theo các mùa trong năm. Lấy mẫu đất phân tích thành phần cơ giới và các chỉ tiêu hóa học (pH, mùn, đạm, lân, kali). Điều tra thành phần loài cây gỗ, cây bụi và thảm tươi dưới tán rừng trồng.
  • Phương pháp điều tra kinh tế - xã hội: Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn (PRA) phỏng vấn các hộ gia đình về kinh nghiệm trồng, khai thác và sử dụng cây Bương lông điện biên tại huyện Điện Biên.
  • Bố trí thí nghiệm nhân giống vô tính:
    • Thí nghiệm chiết gốc cành: Thử nghiệm ảnh hưởng của tuổi cành (cành 1 tuổi và 2 tuổi); ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng gồm IBA và NAA ở các dải nồng độ 0,5%, 1,0%, 1,5% và 2,0% so với đối chứng (Đ/C không xử lý) thực hiện ở 2 thời vụ (vụ Xuân tháng 3/2015 và vụ Thu tháng 8/2015); theo dõi tỷ lệ ra rễ, số rễ, chiều dài rễ và tỷ lệ sống sau 6 tháng nuôi dưỡng cành chiết tại vườn ươm. Thử nghiệm sản xuất giống tháng 3/2016 với IBA 1,5% tại Phú Thọ.
    • Thí nghiệm giâm hom thân: Bố trí các công thức giâm hom thân thực hiện năm 2014 tại Trạm thực nghiệm Chân Mộng, Đoan Hùng, Phú Thọ.
  • Bố trí thí nghiệm kỹ thuật gây trồng tại xã Chân Mộng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ:
    • Thí nghiệm mật độ trồng: Theo dõi tỷ lệ sống, phẩm chất cây và sinh trưởng đường kính, chiều cao sau 21 tháng trồng.
    • Thí nghiệm bón phân và nguồn giống: Theo dõi tỷ lệ sống, chất lượng và sinh trưởng của cây trồng sau 2 năm theo các công thức bón phân kết hợp nguồn giống.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp toán học thống kê sinh học trong lâm nghiệp; sử dụng phân tích phương sai (PTPS) để so sánh sai khác giữa các công thức thí nghiệm; lập phương trình tương quan thực nghiệm giữa chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính (D1.3); tính toán giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn và hệ số biến động (S%).

Nguồn dữ liệu:

  • Số liệu quan trắc khí hậu trạm Điện Biên và trạm Phú Hộ giai đoạn 2010 - 2014.
  • Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên và tỉnh Phú Thọ năm 2014.
  • Báo cáo phân vùng sinh thái lâm nghiệp Việt Nam của Vũ Tấn Phương (2011).
  • Số liệu điều tra thực địa, phỏng vấn PRA và số liệu theo dõi thí nghiệm từ năm 2013 đến năm 2016 thuộc đề tài cấp nhà nước do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì.

Bảng tổng hợp đặc trưng cơ bản của 2 tỉnh nghiên cứu (trích xuất từ Bảng 1.1 của luận án):

Chỉ tiêu đặc trưng Tỉnh Điện Biên Tỉnh Phú Thọ
Nhiệt độ trung bình năm (°C) 22,2 - 24,3 23,3 - 23,7
Lượng mưa trung bình năm (mm) 1.344 - 2.385 1.321 - 1.888
Số giờ nắng trung bình/năm (giờ) 1.430 - 2.022 1.106 - 1.373
Độ ẩm không khí trung bình (%) 79 - 85 81 - 86
Địa mạo, kiểu địa hình Núi dạng tuyến hướng TB - ĐN, thung lũng dốc, độ cao 400 - 1.800 m Gò đồi bát úp xen kẽ thung lũng bằng phẳng, độ cao 100 - 500 m
Thổ nhưỡng Đất feralit xám mùn, nâu đỏ trên đá trầm tích, tầng dày trung bình Đất feralit trên đá phiến mica, nai, trầm tích chua, tầng trung bình đến mỏng
Thảm thực vật rừng Rừng kín hỗn loài lá rộng thường xanh mưa ẩm, rừng tre nứa Rừng kín thường xanh mưa ẩm đồi thấp, rừng hỗn giao tre gỗ, rừng trồng
Dân số (người) / Mật độ (người/km²) 538.228 người / 56,3 người/km² 1.351.000 người / 385 người/km²

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống 151 công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các loài tre trúc. Luận án phân tích sâu về đặc điểm phân bố, sinh thái, kỹ thuật nhân giống (hạt, chiết cành, giâm hom cành, hom thân, thân củ và nuôi cấy mô), cũng như các kỹ thuật gây trồng (chọn đất, mật độ, bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ) của các loài tre mọc cụm thuộc chi Dendrocalamus. Tác giả phân tích lịch sử định danh của loài Bương lông điện biên từ các nghiên cứu của Munro (1868), Widjaja (1995), Lê Viết Lâm và cộng sự (2005), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), Nguyễn Văn Thọ (2012) để xác định rõ tên loài Dendrocalamus giganteus Munro. Chương 1 cũng trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên và Phú Thọ (Bảng 1.1), phân tích các yếu tố thuận lợi về lượng mưa, ẩm độ, đất đai và khó khăn do tập quán canh tác lạc hậu, trình độ dân trí hạn chế ảnh hưởng đến công tác gây trồng, từ đó định hình khoảng trống và định hướng nghiên cứu cho đề tài.

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định đối tượng nghiên cứu là loài Dendrocalamus giganteus Munro; không gian điều tra tại 3 xã (Nà Tấu, Mường Phăng, Nà Nhạn thuộc huyện Điện Biên) và thực nghiệm tại xã Chân Mộng (huyện Đoan Hùng). Luận án thiết kế 5 nội dung nghiên cứu lớn: đặc điểm sinh học; đặc điểm sinh thái; thực trạng gây trồng và sử dụng; kỹ thuật nhân giống vô tính; và kỹ thuật gây trồng. Phương pháp thực hiện kết hợp điều tra lâm học định lượng ngoài hiện trường (lập ô tiêu chuẩn, đo lường các cơ quan sinh dưỡng và sinh sản, giải phẫu vách thân, khảo sát mắt ngủ thân ngầm) với các thí nghiệm nhân giống vô tính (chiết gốc cành 1 - 2 tuổi, xử lý IBA và NAA nồng độ 0,5% - 2,0% vào 2 vụ Xuân và Thu; giâm hom thân) và thí nghiệm lâm sinh hiện trường (mật độ trồng, phân bón NPK và phân hữu cơ). Quy trình phân tích số liệu dựa trên thống kê lâm nghiệp, phân tích phương sai (PTPS) và xây dựng phương trình tương quan thực nghiệm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ số liệu và phân tích thực nghiệm của luận án qua 5 phần chính:

  • Đặc điểm sinh học của cây Bương lông điện biên: Thân khí sinh mọc cụm dày, thân thẳng tròn, kích thước lớn. Thân cây phân bổ cành từ khoảng 1/2 chiều cao thân trở lên, mỗi đốt gồm một cành chính lớn và các cành phụ. Mo thân có kích thước lớn, mặt ngoài phủ lông, sớm rụng. Hoa dạng cụm chùy xuất hiện vào tháng 3/2015. Thân ngầm thuộc dạng mọc cụm (Sympodial), mắt ngủ tập trung tại gốc thân ngầm (khảo sát ở cây 3 tuổi). Quá trình sinh măng bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11; măng sinh trưởng chiều cao chậm vào ban ngày và tăng trưởng rất nhanh vào ban đêm. Cây mẹ ở độ tuổi 1 - 2 năm có khả năng sinh măng cao nhất, giảm dần ở cây 3 tuổi.
  • Đặc điểm sinh thái: Loài Bương lông điện biên phân bố thích hợp ở nơi có lượng mưa bình quân trên 1.300 mm/năm, nhiệt độ 22 - 24°C, độ ẩm không khí trung bình trên 80%. Đất dưới tán rặng tre là đất feralit có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng dày từ trung bình đến dày, hàm lượng mùn từ trung bình đến khá, đất thoát nước tốt và không chịu ngập úng. Luận án thống kê danh mục các loài cây gỗ, cây bụi và thảm tươi đi kèm dưới tán Bương lông tại Điện Biên và Đoan Hùng.
  • Thực trạng gây trồng, khai thác, sử dụng và sinh trưởng: Cây được trồng chủ yếu trong vườn hộ, ven ao, bờ suối theo phương thức quảng canh. Người dân khai thác thân cây phục vụ xây dựng lán trại, làm nhà tre, cột chống, đan lát thủ công và bán măng tươi; kỹ thuật chăm sóc chưa được đầu tư. Phân tích tương quan sinh trưởng chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính (D1.3), lập được bảng sinh trưởng đường kính và chiều cao theo cấp tuổi của cây tại huyện Điện Biên và huyện Đoan Hùng.
  • Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết gốc cành và giâm hom thân:
    • Chiết gốc cành: Tuổi cành 1 năm cho kết quả ra rễ tốt hơn cành 2 năm tuổi. Chất kích thích IBA cho tỷ lệ ra rễ và chất lượng rễ cao hơn hẳn NAA và đối chứng. Ở vụ Xuân (tháng 3/2015), cành chiết xử lý IBA nồng độ 1,5% đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất; vụ Thu (tháng 8/2015) cũng cho kết quả tốt nhưng tỷ lệ ra rễ thấp hơn vụ Xuân. Cành chiết đưa vào nuôi dưỡng 6 tháng tại vườn ươm có tỷ lệ sống cao. Thử nghiệm nhân giống quy mô nhỏ vào tháng 3/2016 tại Phú Thọ bằng IBA 1,5% khẳng định tính khả thi của quy trình.
    • Giâm hom thân: Thử nghiệm năm 2014 tại Phú Thọ cho thấy giâm hom thân đạt tỷ lệ sống và ra rễ thấp hơn nhiều so với chiết cành, đòi hỏi kỹ thuật giữ ẩm nghiêm ngặt và tiêu hao nhiều vật liệu thân cây mẹ.
  • Kỹ thuật trồng rừng và đề xuất biện pháp lâm sinh tại Đoan Hùng (Phú Thọ):
    • Thí nghiệm mật độ: Sau 21 tháng theo dõi, các công thức mật độ trồng (dự kiến áp dụng 200 - 400 bụi/ha) ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống, chất lượng bụi cây và tốc độ sinh trưởng măng mới.
    • Thí nghiệm bón phân: Sau 2 năm theo dõi, các công thức bón kết hợp phân chuồng hoai mục và phân vô cơ NPK giúp nâng cao tỷ lệ sống, kích thích cây đẻ nhiều măng, tăng kích thước đường kính và chiều cao thân cây mới so với đối chứng không bón phân.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm sinh học và sinh thái học của cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro) tại Việt Nam.
  • Xác định rõ vị trí phân loại, các đặc trưng hình thái (kích thước lóng, độ dày vách thân D05 và D1.3, cành, lá, mo thân, hoa), đặc điểm tái sinh gốc thân ngầm mọc cụm, quy luật phát sinh măng theo mùa (tháng 8 - 11) và mối quan hệ sinh trưởng đường kính - chiều cao của loài tre này.
  • Cung cấp các dẫn liệu khoa học về yêu cầu lập địa sinh thái (khí hậu ẩm, đất feralit tầng dày thoát nước) và thành phần thực vật đi kèm của Bương lông điện biên tại hai tỉnh Điện Biên và Phú Thọ.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Bước đầu nghiên cứu ứng dụng thành công kỹ thuật nhân giống vô tính cây Bương lông điện biên bằng phương pháp chiết gốc cành (xác định cành 1 tuổi xử lý IBA nồng độ 1,5% vào vụ Xuân tháng 3 cho kết quả tối ưu), giúp khắc phục tình trạng khan hiếm cây giống từ phương pháp đào gốc truyền thống.
  • Bổ sung và hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật gây trồng thâm canh: xác lập ảnh hưởng tích cực của biện pháp bón phân kết hợp phân chuồng với NPK và bố trí mật độ trồng thích hợp (200 - 400 bụi/ha) sau 2 năm khảo nghiệm thực tế tại Phú Thọ, làm cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật phát triển loài cây này trong sản xuất lâm nghiệp.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Khuyến cáo áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết gốc cành chét 1 tuổi với chất kích thích sinh trưởng IBA nồng độ 1,5% vào vụ Xuân để sản xuất cây giống quy mô lớn phục vụ trồng rừng.
  • Chọn lập địa trồng ở những nơi có tầng đất dày từ trung bình trở lên, đất ẩm ven chân đồi, thung lũng dốc tụ, thoát nước tốt.
  • Áp dụng bón phân thâm canh kết hợp giữa phân hữu cơ (phân chuồng) và phân khoáng NPK hàng năm vào đầu mùa mưa trước chu kỳ sinh măng.
  • Quản lý cơ cấu tuổi cây trong bụi hợp lý, duy trì 2 - 3 thế hệ tuổi cây trên mỗi bụi, tránh khai thác trắng hay chặt hạ cây mẹ 1 - 2 tuổi nhằm bảo đảm năng suất măng và thân cây liên tục hàng năm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Thời gian thực hiện luận án giới hạn từ năm 2013 đến 2016; các mô hình thí nghiệm lâm sinh tại Đoan Hùng (Phú Thọ) mới chỉ theo dõi, đánh giá được ở giai đoạn đầu (sau 21 tháng đối với thí nghiệm mật độ và sau 2 năm đối với thí nghiệm bón phân), chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng thành thục khai thác của rừng tre.
  • Địa bàn khảo nghiệm kỹ thuật nhân giống và xây dựng mô hình trồng mới chỉ thực hiện tại tỉnh Phú Thọ và điều tra hiện trạng tại tỉnh Điện Biên, chưa mở rộng khảo nghiệm lập địa ở các tỉnh miền núi phía Bắc khác.
  • Nghiên cứu công nghệ chế biến sâu đối với thân cây Bương lông điện biên chưa được triển khai chi tiết trong phạm vi đề tài.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi động thái sinh trưởng, cấu trúc bụi và sản lượng măng, thân cây của các công thức thí nghiệm mật độ và bón phân tại Đoan Hùng (Phú Thọ) trong các năm tiếp theo khi rừng tre bước vào giai đoạn khai thác ổn định.
  • Mở rộng các khảo nghiệm gây trồng Bương lông điện biên trên các điều kiện lập địa, loại đất và độ cao khác nhau ở các tỉnh vùng Đông Bắc và Tây Bắc.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ bảo quản và chế biến công nghiệp (sản xuất ván ép tre, đồ nội thất, chế biến măng thương phẩm) từ nguồn nguyên liệu Bương lông điện biên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Thực vật học tại các trường đại học và viện nghiên cứu lâm nghiệp.
  • Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp tại các Chi cục Kiểm lâm, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Giống lâm nghiệp trong việc hướng dẫn người dân kỹ thuật nhân giống và chăm sóc rừng tre lấy thân, lấy măng.
  • Các cơ quan quản lý và người làm chính sách lâm nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc trong việc quy hoạch, phát triển vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ gắn với xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 11/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao:

  • Quy trình kỹ thuật chiết gốc cành xử lý IBA 1,5% và kỹ thuật giâm ủ cành chiết tại vườn ươm 6 tháng.
  • Số liệu định lượng về đặc điểm giải phẫu hình thái lóng, độ dày vách thân, phương trình tương quan sinh trưởng H - D của loài tre có đường kính lớn.
  • Các thông số thực nghiệm về ảnh hưởng của phân bón NPK kết hợp phân hữu cơ đến khả năng đẻ măng và tăng trưởng thân khí sinh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tên khoa học chính thức của loài Bương lông điện biên được xác định trong luận án là gì? Tên khoa học chính thức của loài cây này được xác định là Dendrocalamus giganteus Munro, thuộc chi Luồng (Dendrocalamus), phân họ Tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae). Trước đây, một số tài liệu trong nước từng ghi nhận loài này là Dendrocalamus sinicus L., nhưng qua phân tích các đặc điểm mo thân sớm rụng, lưỡi mo, cành và hoa, luận án đã xác định chính xác tên loài là Dendrocalamus giganteus Munro.

  2. Phương pháp nhân giống vô tính nào đạt hiệu quả tốt nhất cho cây Bương lông điện biên? Phương pháp chiết gốc cành đem lại hiệu quả cao nhất. Thí nghiệm cho thấy sử dụng cành bánh tẻ 1 tuổi, xử lý chất điều hòa sinh trưởng Indole Butyric Acid (IBA) ở nồng độ 1,5% thực hiện vào vụ Xuân (tháng 3) cho tỷ lệ ra rễ và chất lượng rễ tối ưu; cành sau chiết được nuôi dưỡng 6 tháng trong vườn ươm đạt tỷ lệ sống rất cao trước khi đem trồng. Ngược lại, phương pháp giâm hom thân cho tỷ lệ ra rễ thấp hơn nhiều.

  3. Mùa vụ sinh măng của cây Bương lông điện biên diễn ra vào thời gian nào và có đặc điểm sinh trưởng ra sao? Vụ sinh măng của loài bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Quá trình phát triển chiều cao của thân khí sinh diễn ra không đồng đều trong ngày: cây sinh trưởng chậm vào ban ngày và tăng trưởng rất nhanh vào ban đêm. Khả năng sinh măng phụ thuộc vào tuổi cây mẹ, trong đó cây mẹ 1 - 2 tuổi có khả năng ra măng mạnh nhất.

  4. Mật độ trồng và chế độ phân bón được đề xuất cho Bương lông điện biên như thế nào? Do Bương lông điện biên là loài tre mọc cụm kích thước rất lớn, mật độ trồng được đề xuất áp dụng từ 200 đến 400 bụi/ha (thấp hơn mức 400 - 600 bụi/ha của các loài tre thông thường). Về phân bón, kết quả thí nghiệm sau 2 năm khẳng định việc bón phối hợp giữa phân hữu cơ (phân chuồng hoai mục) và phân khoáng vô cơ NPK giúp nâng cao tỷ lệ sống, kích thích đẻ nhiều măng và tăng đường kính, chiều cao thân cây mới rõ rệt so với đối chứng không bón phân.

  5. Điều kiện lập địa tự nhiên nào thích hợp nhất để gây trồng loài Bương lông điện biên? Cây thích hợp ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa hàng năm trên 1.300 mm, nhiệt độ trung bình từ 22 - 24°C, độ ẩm không khí bình quân trên 80%. Về đất đai, cây phát triển tốt trên đất feralit có tầng dày từ trung bình đến dày, giàu mùn, ẩm thường xuyên nhưng phải thoát nước tốt (chân đồi, thung lũng dốc tụ, ven sông suối); cây không sinh trưởng tốt ở nơi đất quá cằn cỗi hoặc bị ngập úng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Thu Hà đã nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các đặc điểm sinh học, sinh thái học của cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus Munro) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc. Đề tài đã bước đầu làm chủ kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết gốc cành bánh tẻ 1 tuổi xử lý IBA 1,5% vào vụ Xuân, giải quyết khó khăn về nguồn giống phục vụ trồng rừng quy mô lớn. Các kết quả thí nghiệm lâm sinh về mật độ và chế độ bón phân NPK kết hợp phân hữu cơ sau 2 năm tại Đoan Hùng, Phú Thọ cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc thâm canh, bảo tồn nguồn gen và phát triển vùng nguyên liệu Bương lông điện biên bền vững tại Việt Nam.