ĐẶT VẤN ĐỀ. Rừng giữ một vai trỏ quan trọng không gì thay thế dược trong rất nhiều lĩnh vực: Rừng bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng.sình thái, bảo tồn nguồn gen, báo vệ đa dạng sinh học, cung cấp nhiều loại]âm đặc sản thiết yếu. đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con rigưởi. Tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên ở nước ta ngày càng bị thu hep dan, bình quân hàng năm mất đi hàng vạn ha do tình trạng du canh du cu, do cháy rừng và khai thác lâm đặc sản bửa bãi.
Diện tích rừng cả nước năm 1943 là 14,3 triệu ha, độ che phủ của rùng là 43%. Nhưng đến năm 1993 diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng cỏn khoảng 9,3 triệu ha, độ che phủ đủa rừng cỏn khoảng 28%. Theo kết quả kiểm kê năm 1993 của Viện điều tra quy hoạch rừng thì tổng diện tích đất trống đổi núi trọc của-cả nước khoáng 13triệu ha, trong đó đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp cần phú xanh khoảng 10 triệu ha. Diện tích rừng tự nhiên bị thu-hẹp, chất lượng rừng suy giảm; kết cấu tổ thành bị phá vỡ, các loài cây quý hiếm có giá trị kinh tế cao bị khai thác chọn thô trữ, sản lượng rừng bị cạn kiệt.
Đúng trước tình trạng trên, nhiệm vụ cửa các nhà quản lý cũng như khoa học Lâm nghiệp là im ra các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý để tận dụng tối đa fiểm năng của rừng, hướng sự phát triển của rừng theo mục đích có lợi. Việc để xuất các phương thức báo vệ rừng, khoang nuôi phục hồi ring, 1am giàu rừng, tái sinh nuôi đưỡng và trồng rừng hợp lý là vấn để sống còn trong sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng một cách bên vững. Điểu này đòi hỏi trước hết một sự hiểu biết sâu sắc về cấu trúc, to chức năng, sức sản suất, động thái và độ ổn dịnh sinh thái của các hệ sinh thái rừng tự nhiên, Rừng khộp lả tên gọi chung thưởng dùng để chỉ dạng rửng thưa cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) rụng lá vào mùa khô. Rửng khộp phân bổ ở vùng Đông Nam Á với điện tích đáng kể: Ở Cam Pu Chia Khoảng 5,3 triệu ha, chiếm 40% tổng diện tích rửng trong cả nước.
Ở Thai Lah ude" ong khoang 45% téng dién tich ming, 6 Lao phân bố ỏ Son'The Ra giữa A Tô Pơ và Sa va na khet. Ở Việt nam theo số liệu của Viện điều tra quy hoạch rừng, rừng khộp có khoảng 600.000 ha, chiểm 6,3% điên tích rừng toàn quốc phân bố từ 14” vĩ Đắc (tỉnh Gia lai - Kon tum) đến: I1? vĩ Bắc -(tỉnh Tây ninh), Rừng khộp tập trung nhiều nhất ỏ Đăk lăk và Nam Gia lai - Kon tum, khu vực này có độ cao trung bình 400 800m, nhiệt độ trung bình hàng năm tử 21 - 27c, Rừng khộp là một hệ sinh thai ring đặc trưng, rằng hình thành dưới những điều kiện sinh thái cực kỳ khắc nghiệt. Chính vì vay ma về mặt cầu trúc lẫn chức năng của nó khác biệt so với các hệ sinh thái rửng khác. Một trong những điểm khác biệt của rừng khộp là nền nhiệt độ cao quanh nắm, lượng mưa hàng năm có rằng khộp thấp, thất thưởng trong năm chú yếu †ập trung vào 6 tháng mùa mig Về mặt cấu tfúc, rửng khộp được đánh giá như sau: Cấu trúc rừng có nhiều tầng, tức rằng:hạt không đồng tuổi với thành phần loài đơn giản hon so với rừng thiténg-Xanh hay ntta rụng lá.
Tuy nghèo về số lượng và loài thực vật, trữ lượng thấp nhưng lại chiếm tỷ lệ lón trong khối rừng Tây nguyên, phân bố gần biên giới, tỷ lý gỗ có giá trị cao hơn nhiều loại rừng thưởng xanh, cung cấp nhiều lâm đặc sản có giá trị £ tuan & phòng, sinh thất mồi Voi ý nghĩa to in oh tiên để việc tại hiệu quả cao, đảm báo kinh doanh lâu dài dung họp lý tài nguyên thiên phiên, cẩu nhất ai sinh, phát triển của rửng, Từ do mới có ghững b hoàn thiêu nhất. Để góp phần vào việc nghiên cứu rũng khộp aS tiến hành nghiên cúu để tài: "Nghiên =ứu sinh trưởng và re của cây Dầu đồng (Diptecocarpus tuberculatus) và D: rả beng i obtusifotius) của rửng khộp tại lâm (xưởng Chư ME - ĐĂN LĂK", CHƯỜNG 2: TONG QUAN VE VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU. LICH SU NGHIEN CUU TREN THE GIGI: Nghiên cứu sinh trưởng và tăng trưởng thuộc môn Khoa học sản lượng rừng (Groth and Yield Study). Ra đỏi tử giữa thế kỷ.
18 tai các nước cỏ trình độ kinh doanh rừng cao. Sự phát triển cửa khoa học, sản lượng. rừng gắn liển với tên tuổi của những người khai sinh ra nó: như: Baur, Borggrave, Breymann, Cotta. Thời gian đầu, sản lượng rửng chỉ đơn thuần thuyết mình về số lượng gỗ lợi dụng hàng năm.
Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 đã xuất hiện các hàm sinh trưởng đầu tiên của Gompertz và Vethuis. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích thống kê toán học như: Phân tích phương sai (Afalysis of variance), phan tích tương quan hồi quy (Regressioiranalysis)‹ Trong nửa dầu thế kỷ 20 ñhiểu học thuyết, quan điểm mới về cầu trúc và mối quan hệ giữa thực vật rừng với hoàn cảnh ra dời, Những quan điểm này là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh trưởng và dự đoán trữ lượng, sản lượng rằng. Sự phát triển cửa khoa học sẵn lượng rửng hiện được sự hỗ trợ của toán học, phương pháp nghiên cứu từ mô tả định tính chuyển dẫn sang, định lượng dưới đạng các mô hình toán học chính xác. Diểm qua một số nét lớn có liên quan đến nội dung của đề tài nghiên cứu như sau: Meyer Stevenson (1943) [S5], Schumacher và Coile (1960) [43], Alder (1980) [58] đã có những tống hop hết sức phong phú về các phương pháp nghiên cứu sinh trưởng và ting trưởng rừng như: xây đựng mô hình sinh trưởng, tăng trướng cây rừng và lâm phần, thiết lập dudng cong sinh trưởng bình quân bằng phương pháp phân tích hồi quy theo nhóm của Boiley - Clutter, phuong pháp AffI để phân chia các đường cong sinh trưởng chỉ thị cấp đất.
Có thể coi sinh trưởng rửng và cây rửng là một hàm phụ thuộc vào nhiều biến số: tuổi (A), các điều kiện sinh thdi (Si), biện-pháp tác động của con người. Thì sinh trưởng là một hàm phụ thuộc vào các yếu tố sau: y =£(A, Si, bi.) POW 21) Nếu như trong những vủng có điểu kiện sinh thái, biện pháp kinh doanh tác động tương đối đồng nhất thì điều kiện Sinh trưởng của rừng về cây rửng phụ thuộc vào tuổi được nhiều nhà khoa hợe-nghiên cứu. Bắt đầu tử hàm Gom Pertz (1985): —a.2) Phương trình vị phân mà ham Gom pertz dua yao sau nay mdi dude Backman (1938), Richards (1959), Wenk (1969) và Schaf (1977) đưa ra. Năm 1973 Wenk chứng minh được là b:tương ứng với tốc độ sinh trưởng tương đối tại thỏi điểm tăng trưởng đạt cực đại.
Roberts (1907, 1908, 1923) phát triển hàm Gompertz qua sự mổ rộng phương trình vi phân biểu thị cho tốc độ phán ting trong hóa học. Verhults (1845) cũng đứa ra dạng hàm toán học để mô phỏng quá trình sinh trưởn& của cây rừng: 1 Y= 3 @3) Peschel (1938) đã tổng hợp các hàm sinh trưởng khác. Wenk (1969) đã sử dụng ham Gom pertz dé xây dựng hàm suất tăng trưởng: ~ø,#-e~z220re:9 Pv=e ^ , (2.4) Trong việc mô tả quy luật tăng trưởng Petterson (1929) va Backman (1931, 1938, 1943, 1943) cho thấy sự phù hợp của hàm:. +a) lB(x)=4; In x) yoo te 5 (2.5) Qua lấy tích phân ta được hàm sinh trưởng; - yom Lf Je een dt ; 2 (2.6) Korf (1939) dua ra ham sinh trưởng có dạng: ae Y=ome , 27 Người ta đã dùng nhiều cách để mô tả sinh trưởng của cây rửng và lâm phần.
Trong đó cách truyền thống mà các nhà khoa học thưởng dùng. là biểu sản lượng. Từ những năm 1960 trở lại đây ngày càng xuất hiện nhiều công trình dủng mô hình toán để nghiên cứu quá trình sinh trưởng, của cây rừng, Ngày nay đã có hàng loạt các Hàm sinh trưởng có thể diễn tả chính xác đường cong sinh tray của cây.rừng phụ thuộc vào thời gian. Vấn dé bây giỏ là ở chỗ hiểu sâu hơn eơ sở lý thuyết của quá trình sinh trưởng, trong đó có nhiều cách: - Nhận thức các.quy luật vật lý và ảnh hưởng của nó vào quá trình sinh trưởng cho phép mô tả được bằng các hàm toán học.
- Mô tả quá trình sinh ttưởng thông qua mô hình điều khiển. - Mô tả quá tzình sinh trưởng như là quá trình ngẫu nhiên. Buckman (1962) [49] đã chỉ ra rằng: suất tăng trưởng của một lâm phần là một hàm pbụ thuộc vào tuổi, loài cây, lập địa và mat dé. Clutter (1963) [8] đã dùng phương trình vi phân để dự báo năng suất của rừng, thuần loài đều tuổi.
Monser và Hall (1969) [51] thì đã dùng phương pháp này để nghiên cứu rừng lá rộng khác tuổi. Các nghiên cứu về sau này đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới. Monser (1972) da định lượng ba thành phan chủ yếu của quá trình sinh trưởng: tái sinh, chết và tăng trưởng cây sống. Leary (1970) cũng tiến hành những nghiên cứu tương tự, ông đi sâu hơn về các luận điểm lý thuyết của các mô hình mô phỏng sinh trưởng về đưa ra những nguyên tắc để ưdc lượng các tham số.
Người ta cũng có thể dùng các quá trình ngẫu nhiên để mô tả quá trình sình trưởng của lâm phan. Burner và Moser (1973) đã dủng quá trình Markov dé mô phỏng quá trình chuyển hóa cấp kính theo thỏi gian. Stephen va Waggoner (1970) cho rằng có thể dùng mô hình Markov để mô phỏng sự biến đổi thành phần loài của một lâm phẩu'trong vỏng 40 năm. Mô phỏng toán cũng thưởng được ding dé nghiên cứu cấu trúc lâm phẩn mà chủ yếu là phân bố số cây theo cỡ kính.
Clutter va Bennett (1965) đã đã dùng hàm xác suất B để nghiên cứu phân bố số cây theo cấp kính cho rửng thông trồng, trong đó tham Số mô hình được ưóc lượng bằng hàm của tuổi, lập địa và mật độ trồng: Người ta cũng có thể xây đựng các hàm mô hình trên cơ sở của từng cây cá thể, Về phương pháp luận thì-cách làm này dễ và chính xác hơn phương pháp mô tả chưng cho lâm phần. Tuy nhiên nó đỏi hỏi một khối lượng thông tin và tính toán lón-hơn nhiều. Ưu điểm nổi bật của mô hình từng cây là có thể dễ đàng kết hợp với quá trình đào thải hoặc tái sinh, về cũng thích hợp hơa dể mô tá rừng hỗn loài. Việc mô hình hóa quá trình sinh trưởng của cây rừng được tiến hành bằng nhiều hướng khác nhau, nhưng có thể xếp thành hai xu hướng chính.