Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về loài Hoàng liên gai (tên khoa học, tên đồng nghĩa, họ thực vật) 1. Tên gọi Hoàng liên gai có các tên gọi khác Hoàng mù, Hoàng mộc, cây Mật gấu, Hoàng liên gai lá nhỏ, hoàng liên ba gai,. có tên khoa học là Berberis juliane C.Schneid thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae).
Đặc điểm hình thái Loài cây bụi, cao 2-3m, gỗ thân và rễ có màu vàng đậm, phân cành nhiều, có gai dài, chia ba nhánh , mọc dưới các túm lá. Lá mọc vòng 3-7 cái, gần như không cuống, phiến lá cứng hình thuôn, nhọn 2 đầu, hơi bóng ở mặt trên, dài 3- 9cm, rộng 1,2-2,5cm, mép có răng cưa nhỏ, đều và nhọn. Hoa nhiều 10-30 cái mọc ở giữa các túm lá. Hoa nhỏ, cuống dài 1-1,3cm, màu vàng nhạt, mẫu 3.
Tổng bao 3 hình mác rộng. Lá đài 6 hình trứng ngược, xếp thành 2 vòng, những vòng trong lớn hơn vòng ngoài. Cánh hoa 6, nhỏ hơn đài, hình trứng thuôn, đỉnh lõm, gốc có 2 tuyến nhầy. Nhị 6, nhị ngắn hơn cánh hoa, bao phấn hình trứng.
Bầu hình trụ tròn, hơi phồng ở giữa, chứa 1-2 noãn. Quả mọng hơi hình bầu dục hoặc hình trứng thuôn, đầu nhuỵ tồn tại rõ, khi chín màu đen hơi có phấn trắng. Hạt gần hình trụ màu nâu nhạt.1: Tiêu bản Hoàng liên gai (nguồn https://science.2: Lá và thân cây Hoàng liên gai Nguồn: Trương Trọng Khôi 1. Đặc điểm vật hậu và sinh thái Theo Sách Đỏ Việt Nam- phần thực vật, Hoàng liên gai có hoa tháng 3- 4, mùa quả tháng 4-10(11).
Khối lượng 1000 hạt: 20,12 gam, tỷ lệ nảy mầm của hạt khi gieo 38,1%, thời gian nảy mầm 38-60 ngày. Cây non nảy mầm từ hạt trong tự nhiên quan sát được vào tháng 4 và tháng 5. Có khả năng tái sinh sau khi bị chặt phá. Cây ưa ẩm, chịu bóng khi còn nhỏ, sau ưa sáng, thích nghi với vùng khí hậu á nhiệt đới núi cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 13°C về mùa đông rất lạnh quah năm sương mù bao phủ .Thường mọc dải rác ở rừng cây bụi, và loài trúc ở gần đỉnh núi đá vôi, ở độ cao 2600-2900m.3: Hoa Hoàng liên gai Nguồn: Trương Trọng Khôi Phân bố tự nhiên Ở Việt Nam cây Hoàng liên gai phân bố khá hẹp chỉ mọc dải rác ở Lào Cai ( Sa Pa: núi Hàm Rồng, Ô Quy Hồ, Bát Xát: xã Trung Lèng Hồ).
Trên thế giới cây Hoàng liên gai chỉ phân bố ở Trung Quốc. Giá trị sử dụng Hoàng liên gai là một loài có nguồn gen quý hiếm đối với Việt Nam. Trong rễ và thân có chứa berberin (3%), dùng làm thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, ỉa chảy, chữa đau mắt đỏ. Tình trạng Do phân bố hẹp, số lượng cá thể hiện có không nhiều, điểm phân bố ở núi Hàm Rồng đã bị tàn phá (còn vài cây).
Điểm ở Ô Quý Hồ đang bị đe dọa (gần nơi khai thác đá). Đã từng bị khai thác thu mua, nguy cơ tuyệt chủng cao.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Phân loại và phân bố chi Berberis trên thế giới 1. Tên gọi và phân loại 5 Hoàng liên gai có tên khoa học là Berberis juliane C.Schneid thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), bộ Mao lương (Ranunculales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida).
Theo Ying Junsheng et al. (2001), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) có 17 chi và khoảng 650 loài, chủ yếu phân bố ở vùng miền núi á nhiệt đới và vùng ôn đới phía Bắc. Riêng ở Trung Quốc, có tới 11 chi và 303 loài. Chi Berberis có gần 500 loài, phân bố ở vùng ôn đới phía Bắc và một số ít ở bán cầu Nam có 215 loài và có tới 197 loài đặc hữu và 1 loài được giới thiệu ở Trung Quốc.
Trong hệ thống phân loại, Hoàng liên gai được xếp như sau: Kingdom: Giới Plantae Division: Ngành Magnoliophyta Class: Lớp Magnoliopsida Order: Bộ Ranunculales Mao lương Family: Họ Berberidaceae Hoàng liên gai Genus: Chi Berberis Species: Loài Berberis julianae C.Schneid Tên khoa học đầy đủ của Hoàng liên gai là Berberis julianae C.1913 được định danh vào năm 1913. Thường gọi là Berberis julianae C. Hiện nay tên đồng danh với tên chính thức của loài là Berberis julianae var. Phân bố của chi Berberis và loài Hoàng liên gai Chi Berberis bao gồm khoảng 500 loài cây bụi, gỗ nhỏ thường xanh.
Chi này có quan hệ chặt chẽ với chi Mahonia. Chính vì vậy, nhiều nhà thực vật học không tán thành việc chấp nhận tên chi Mahonia nên đã xếp chi Mahonia vào cùng với chi Berberis vì một số loài thuộc hai chi này có thể lai giống với nhau [34]. Từ chữ Hy Lạp berberi, vỏ sò; các cánh hoa đều lõm, như là một vỏ sò nhỏ; có người cho là dẫn xuất từ berlerys, tên Ả rập của quả cây Hoàng liên gai. Cây nhỡ mọc đứng có thân có màu sắc, thường có u sần sùi, có rãnh hay không; 6 có gai hay không.
Lá tồn tại hay sớm rụng, màu mận hay không, với mép có gai, nguyên hay cuốn ngoài. Cụm hoa màu vàng bóng, màu da cam, màu vàng đo đỏ, hay vàng nhạt, có khi vàng lục. Bầu chứa 1 - 12 noãn. Quả màu đỏ sẫm, hình cầu, hình bầu dục hay hình trứng, cỡ 6 - 20mm, có khi màu mận.
Phân bố Hoàng liên gai ở một số quốc gia châu Á: Trung Quốc: Trung Quốc được xem là một nước có sự phân bố của họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) và đặc biệt là chi Berberis bởi điều kiện tự nhiên của Trung Quốc phù hợp với đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các loài trong chi Berberis. Hai loài mới thuộc chi Berberis đã được tìm thấy tại Trung Quốc được mô tả và được minh họa. Môi trường sống của nó trong tự nhiên và hoàn cảnh của bộ sưu tập của nó được mô tả. Ghi chú trồng trọt được đưa ra.
Đó là loài Berberis yingjingensis D. & Harber được ghi nhận tại tỉnh Tứ Xuyên, và loài Berberis wuchuanensis Harber and S. được ghi nhận tại Quý Châu[24]. Theo Ying Junsheng (2001), ở Trung Quốc có tới gần 500 loài thuộc chi Berberis, trong đó loài Hoàng liên gai (Berberis juliane.Schneid) xuất hiện ở sườn, rừng, bụi cây, rừng tre; 1100-2100 m.
Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Bắc, Hồ Nam, Tứ Xuyên. Trong cuốn “Tạp chí lâm nghiệp Quảng Tây”, cũng đã miêu tả họ Hoàng liên gai(Berberidaceae) có hai chi là chi Berberis có 3 loài và chi Mahonia có 11 loài, loài Hoàng liên gai (Berberis julianae) cũng được miêu tả là loài cây bụi, thích nghi ở địa hình hơi dốc và có phân bố ở các huyện Thăng Long, Quế Lâm, Hưng An, Thẩm Dương, Toàn Châu. Trong cuốn “Landscape Plants of China, Quyển 1”, giới thiệu trong họ Hoàng liên gai có 2 chi là chi Berberis (33 loài) và chi Mahonia (5 loài), các loài trong 2 chi đều được mô tả về các đặc điểm hình thái, địa điểm phân bố, địa 7 hình, có ảnh màu minh họa. Loài Hoàng liên gai cũng được ghi nhận và được miêu tả.
Phân bố ở các nước trên thế giới Kết quả nghiên cứu các tài liệu cho thấy, ở Bắc Mỹ, Úc và một số nước Châu Âu sử dụng các loài cây khác thuộc chi Berberis (họ Berberidaceae) có hình thái gần giống với loài Hoàng liên gai, do có hoa màu vàng nên được trồng làm cảnh xung quanh tường nhà, bờ rào hoặc các khoảng trống giữa sân trường. Một số loài về mùa đông lá chuyển mầu đỏ rất đẹp. Ahrend (1961) đã công nhận khoảng 500 loài cho Berberis s. Chi này có hai trung tâm đa dạng quan trọng, tương ứng với Eurasia với 300 loài và Nam Mỹ với 200 loài.
Tuy nhiên, theo Landrum (1999), con số này có thể ít hơn, vì Ahrend đã trích dẫn 60 loài cho Chile và vùng lân cận phía Nam Argentina, trong khi Landrum chỉ chấp nhận 20 loài. Orsi (1976), trong nghiên cứu phân loại của mình về loài Berberis của Argentina, đã trích dẫn 26 loài thuộc chi Berberis với hai trung tâm phân phối khác nhau: thứ nhất là rừng Tucumano ‐ Salteño ở phía tây bắc với 9 loài Berberis và thứ hai là thảo nguyên Andean rừng Patagonia ở phía nam. Ở môi trường sống thứ hai, “Calafate,” hay” Michay”, tên được áp dụng cho nhiều loài Berberis Patagonia, là những yếu tố rất phổ biến của rừng, thảo nguyên và thảo nguyên rừng nhiệt đới (Bottini, 2000). Việc phân loại của chi Berberis vẫn không chắc chắn, mặc dù số lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện.
Orsi (1984) đã công nhận 17 loài Patagonia ở Argentina, trong khi Landrum (1999) đồng nghĩa với một số loài này và chỉ nhận ra 9 loài. Một ví dụ về điều này là việc đặt B. parodii Công việc dưới B. Và cũng theo nghiên cứu của (Bottini, Premoli & Poggio, 1999) thì việc xuất hiện của phép lai và, có lẽ một số mức độ xâm lấn trong các vùng chuyển tiếp đã tạo ra các hình thức trung gian gây khó khăn cho phân loại hình thái học của các loài trong chi Berberis.Keet (2016) cho thấy Châu Phi là nơi sinh sống của ba loài Berberis (B.), thì họ Berberidaceae không xuất hiện tự nhiên ở Nam Phi.
Tuy nhiên, do buôn bán cây cảnh, tổng cộng có 11 loài Berberis, 11 giống và 8 giống lai đã được sử dụng trong lịch sử và hoặc hiện đang được trồng ở nước này. Tình trạng xâm lấn hiện tại của hầu hết các loài này vẫn chưa được biết, nhưng hai quần thể Berberis đã nhập tịch gần đây đã được phát hiện. đã được tìm thấy trong Công viên quốc gia Golden Gate Highlands ở phía đông tỉnh Free State và B. đã được tìm thấy trong Khu bảo tồn rừng Woodbush ở tỉnh Limpopo.
Do các đặc điểm hình thái chồng chéo và đa dạng, Berberis là một trong những chi phức tạp nhất về mặt phân loại. Palynology là một trong những công cụ phân loại để phân định và xác định các loài phức tạp. Trong nghiên cứu này, phấn hoa của 10 loài Berberis được phân tích thông qua ánh sáng và kính hiển vi điện tử quét. Các đặc tính định tính cũng như định lượng (hình dạng phấn hoa, kích thước, sự hiện diện hoặc không có colpi, chiều dài và chiều rộng colpi, độ dày exine, trang trí, lớp phấn hoa, khẩu độ và tỷ lệ xích đạo cực) đã được đo.
Sự khác biệt quan sát được trong cả hai đặc điểm định lượng và định tính là quan trọng trong việc xác định phân loại. Trong những năm gần đây nhiều kỹ thuật đã được thực hiện để đóng góp vào kiến thức tốt hơn về các loài trong chi Berberis. Các nghiên cứu về hình thái, sinh thái, tế bào học và sinh hóa đã cho phép phân định các phân loại này và quy định về sự phân loại homoploid và polyploid (Bottini et al., 1998, 1999b, 2000a; Bottini, Greizerstein, Poggio, 1999a, 2000a; 2000). Những dữ liệu này cho thấy B.