Chương 1: Tổng quan tài liệu (5 trang). Chương 2: Địa điểm, thời gian, vật liệu và phương pháp nghiên cứu (6 trang). Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (35 trang). KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (1 trang).
3 NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm tự nhiên của huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng 1. Vị trí và diện tích Huyện Phú Giáo được thành lập vào năm 1999, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bình Dương, cách thị xã Thủ Dầu Một 45 km [37]. Huyện Phú Giáo có 11 xã và 1 thị trấn gồm Thị Trấn Phước Vĩnh, xã An Bình, xã An Linh, xã An Long, xã Phước Sang, xã Tân Hiệp, xã Tân Long, xã Tam Lập, xã Phước Hoà và xã Vĩnh Hoà.
Với tổng diện tích tự nhiên là 54.378,16 ha và có vị trí tiếp giáp như sau: Phía đông bắc giáp với huyện Đồng Phú (Bình Phước), phía đông giáp huyện Vĩnh Cửu (Đông Nai), phía tây bắc giáp huyện Chơn Thành (Bình Phước), phía nam giáp huyện Tân Uyên (Bình Dương) và phía tây giáp huyện Bến Cát (Bình Dương) [37]. Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Bình Dương [29]. Địa hình Vùng đất Phú Giáo tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát thì Phú Giáo có nhiều dạng địa hình khác nhau như địa hình bằng phẳng, thung lũng bãi đồi,…[22].
Khí hậu Huyện Phú Giáo cũng giống như tỉnh Bình Dương nói chung có vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, nhiệt độ cao quanh năm, ánh sáng dồi dào, nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao và có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) [37]. Bản đồ số giờ nắng trung bình năm huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương [29]. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở từ 25°C - 27°C. Đặc biệt là hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần.
Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3°C và thấp nhất từ 16°C - 17°C (ban đêm) và 18°C vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76% - 80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1. Bản đồ phân bố lượng mưa trung bình năm ở huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương [29].
Sông ngòi Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua huyện Phú Giáo thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với hai mùa là mùa mưa và mùa khô. Phú Giáo có một con sông lớn là sông Bé và đây là con sông tự nhiên để phục vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô [37]. Thổ nhƣỡng Đất đai Phú Giáo rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Các loại đất như đất xám trên nền phù sa cổ, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất xám Gley, đất phù sa chưa phân hóa PD [29].
Bản đồ phân bố đất của huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương [29]. Tài nguyên sinh vật Huyện Phú Giáo hiện có hơn 5522,40 ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Diện tích rừng Phú Giáo chủ yếu là rừng non tái sinh, rừng trồng bổ sung. Các loại cây rừng bao gồm họ dầu, tre, trúc, xà cừ, bạch đàn, tràm bông vàng, và quý như sao, gỗ đỏ, cẩm lai, giáng hương,.
Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm [37]. Tình hình nghiên cứu giun đất 1. Thế giới Trên thế giới, giun đất đã được nghiên cứu từ lâu, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Myamar, Pháp…đã có những chuyên khảo nghiên cứu về giun đất. Ở Lào có công trình nghiên cứu của Samphon Keungphachanh đã thống kê 68 loài giun đất thuộc 8 giống, 7 họ, trong đó giống Pheretima có số loài phong phú nhất [14].
Khu hệ giun đất ở Myamar có công trình của Gates (1972) [47]. Ở Campuchia đã có các dẫn liệu tại các điểm xung quanh thủ đô Phnôm Phênh và một số thị trấn đồng bằng, kết quả nghiên cứu đã thống kê 14 loài giun đất trong 5 giống sau: Pheretima, Drawida, Lampito, Pontoscolex, Glyphidrilus [18]. Blakemore cùng các tác giả khác đã liệt kê 505 loài giun đất từ Ấn Độ, Sri Lanka và các vùng lân cận, trong đó có 101 loài từ TamilNadu (phía Nam của Ấn Độ) [43]. Việt Nam Giun đất ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ lâu, từ công trình đầu tiên vào thế kỷ XIX của Perrier năm 1872, 1875 và đầu thế kỷ XX của Stephenson.J năm 1931; Michaelsen năm 1934 đến các công trình nghiên cứu tập trung từ năm 1982 đến nay, phần lớn được công bố trên Tạp chí Sinh học và Thông báo khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội của các chuyên viên trong nước.
Trước năm 1975, do điều kiện chiến tranh, việc nghiên cứu giun đất bị gián đoạn, chỉ được tiến hành ở một số vùng. Các dẫn liệu thu được chủ yếu về mặt hình thái, sinh thái. Từ năm 1982 đến nay, việc nghiên cứu giun đất ở Việt Nam mới được thực hiện một cách đầy đủ và có hệ thống. Từ rất nhiều công trình nghiên cứu, Thái Trần Bái đã tổng kết số loài giun đất có trên lãnh thổ Việt Nam cho đến năm 2000 là 195 loài trong 8 họ giun đất [13].
Năm 2004, Thái Trần Bái và cộng tác viên đã cung cấp danh lục các loài giun đất ở một số đảo phía Nam. Trong đó, đảo Thổ Chu có 6 loài và 4 taxon chưa xác định tên và đảo Phú Quốc có 4 loài và 4 taxon chưa xác định tên (thuộc Kiên Giang), đảo Côn Lôn và hòn Bảy Cạnh có 9 loài và 6 taxon chưa xác định tên khoa học (thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu) và đảo Hòn Tre (có 5 loài và 1 số taxon thuộc nhóm Pheretima không có manh tràng) thuộc Khánh Hòa [17]. Đến năm 2008, Nguyễn Thanh Tùng và Trần Thị Anh Thư đã công bố danh lục gồm 11 loài giun đất và 6 taxon chưa xác định được tên khoa học ở khu vực vành đai sông Tiền [39]. Năm 2013, Nguyễn Thanh Tùng đã công bố 34 loài giun đất ở đồng bằng sông Cửu Long [38].
Hiện tại, Việt Nam có 207 loài giun đất (Theo Nguyễn Thanh Tùng tập hợp năm 2013 thì tại Việt Nam đã có 204 loài giun đất [38]. Tháng 1 năm 2015, Nguyễn Thanh Tùng đã vừa công bố thêm 3 loài giun đất mới ở Việt Nam [49]). Tỉnh Bình Dương mới chỉ có dẫn liệu về 12 loài giun đất ở huyện Dầu Tiếng [32]. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài giun đất ở huyện Phú Giáo là rất cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện dần bản đồ phân bố giun đất ở tỉnh Bình Dương.
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu Mẫu giun đất được thu ở 7 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Địa điểm thu mẫu được giới thiệu ở bảng 2. Ở khu vực nghiên cứu, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, chúng tôi tập trung thu mẫu trong 6 sinh cảnh thuộc huyện Phú Giáo (rừng tràm, rừng cao su, đất vườn, đất ruộng lúa, đất bỏ hoang, bờ sông - suối - hồ) với dạng địa hình chính ở đây là đồng bằng.1: Địa điểm, thời gian và sinh cảnh thu mẫu giun đất ở huyện Phú Giáo (Phụ lục II).
STT Địa điểm thu mẫu Thời gian Sinh cảnh thu mẫu 1 T.T Phước Vĩnh Tháng 8/2014 – 9/2014 Bờ sông , đất vườn - chuồng 12/2014 – 1/2015 bò. 2 Xã Phước Hoà Tháng 8/2014 – 9/2014 Bờ sông Bé, đất vườn , rừng 12/2014 – 1/2015 cao su, đất bỏ hoang. 3 Xã An Linh Tháng 8/2014 – 9/2014 Rừng cao su, đất vườn. 12/2014 – 1/2015 4 Xã Phước Sang Tháng 8/2014 – 9/2014 Kênh Suối Giai, rừng cao su, 12/2014 – 1/2015 đất vườn.
5 Xã Tam Lập Tháng 8/2014 – 9/2014 Đất vườn, rừng tràm, bờ suối. 12/2014 – 1/2015 6 Xã An Thái Tháng 8/2014 – 9/2014 Đập Phước Hoà, rừng tràm, 12/2014 – 1/2015 rừng cao su, bờ suối. 7 Xã Vĩnh Hoà Tháng 8/2014 – 9/2014 Rừng cao su, đất vườn. 12/2014 – 1/2015 8 Xã Tân Hiệp Tháng 8/2014 – 9/2014 Rừng cao su, đất ruộng lúa, 12/2014 – 1/2015 đất vườn.
Bản đồ thu mẫu ở một số xã thuộc huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương [29]. Vật liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 2. Vật liệu nghiên cứu 2. Mẫu vật Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên kết quả phân tích của 1241 cá thể giun đất với trọng lượng 1750,2 g trong đó có 1059 cá thể thu 189 hố định lượng, ở 7 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Mẫu nghiên cứu được lưu trữ tại phòng thí nghiệm Sinh học trường Đại học Thủ Dầu Một. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất nghiên cứu. - Dụng cụ và thiết bị thu mẫu, phân tích hình thái giun đất gồm có: túi vải, giấy ghi nhãn, thước đo, máy ảnh kỹ thuật số, cân điện tử (độ chính xác 0,01 g), kính lúp, kính soi nổi và bộ đồ mổ. - Hóa chất: Hóa chất cố định mẫu gồm dung dịch formol 2%, formol 4%, cồn 30% và cồn 96%.
Phƣơng pháp nghiên cứu 2. Phƣơng pháp thu mẫu - Phương pháp thu mẫu định lượng: Mẫu định lượng của giun đất được thu theo cách lấy mẫu động vật đất của Ghiliarov (1975), mẫu được thu bằng tay trong các hố 10 đào có kích thước 50 cm x 50 cm (diện tích bề mặt hố đào là 0,25 m 2), thu theo lớp đất dày 10 cm cho đến khi không gặp giun nữa. Mẫu được thu vào thời điểm bất kỳ trong ngày. - Phương pháp thu mẫu định tính: Việc thu mẫu định tính được tiến hành song song với thu mẫu định lượng trong cùng một thời điểm ở tất cả các sinh cảnh của vùng nghiên cứu bằng các dụng cụ đơn giản như cuốc, xẻng, túi vải…gặp con nào thu con đó kể cả những con tự bò lên mặt đất khi mưa, ngập nước.
Phƣơng pháp xử lý mẫu Mẫu được rửa sạch trong nước, làm cho chúng chết bằng dung dịch formol 2%. Sau đó, xếp vào hộp đựng mẫu có nắp đậy ở trạng thái duỗi thẳng, để yên khoảng 10 - 15 phút cho mẫu vừa cứng. Tiếp tục cho từ từ dung dịch formol 4% vào hộp dựng mẫu, định hình trong 24 giờ và sau đó bảo quản mẫu trong dung dịch formol 4% mới. Mẫu dùng để ly trích DNA: Xử lí mẫu trong cồn loãng (30%), sau đó bảo quản trong cồn 96%, để ở nhiệt độ phòng hoặc trữ mẫu tươi trong tủ -200C [43].