ĐẶT VẤN ĐỀ Thực vật đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, chúng ảnh hƣởng đến cấu trúc của thảm thực vật, chu trình dinh dƣỡng và thành phần loài từ đó chúng tác động đến chức năng của hệ sinh thái và tính đa dạng sinh học. Việc bảo tồn các loài thực vật rừng quý hiếm trong khu vực có ý nghĩa rất quan trọng, không những góp phần gìn giữ tính đa dạng sinh học, duy trì và phát triển các nguồn gen quý, hiếm, nguy cấp, mà còn đóng vai trò lớn trong bảo vệ sinh cảnh sống của các loài động vật. Khu rừng phòng hộ thuộc ba xã Cao Mã Pờ, Tả Ván và Tùng Vài nằm trên địa phận của huyện Quản Bạ của tỉnh Hà Giang. Địa hình của khu vực này bao gồm các vùng đồi núi có độ cao từ 900m cho đến 1.
Do có sự dao động lớn về độ cao, sự biến đổi mạnh về địa hình cho nên thảm thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, với nhiều loài thực vật quý hiếm đã đƣợc ghi nhận. Giổi na (Magnolia grandis (Hu & W.Kumar) là loài thực vật quý hiếm đƣợc ghi nhận cấp độ CR trong danh lục đỏ của IUCN (2011). Loài đã đƣợc ghi nhận tại Việt Nam và Trung Quốc - khu vực gần biên giới với Việt Nam. Hiện quần thể Giổi na ở Việt Nam đã có những ghi nhận bƣớc đầu tại Quản Bạ- Hà Giang, do tổ chức FFI- chƣơng trình Việt Nam thực hiện.
Tuy nhiên, vùng khảo sát còn hẹp, mới chỉ tập trung đóng biển các cây mẹ Giổi na và thu hái hạt phục vụ nhân giống. Các thông tin về kích thƣớc quần thể, đặc điểm phân bố của loài hiện còn thiếu. Chính vì những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng phân bố loài Giổi na (Magnolia grandis (Hu & W.Kumar) tại khu vực huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu của đề tài là cung cấp những thông tin cơ bản về quần thể loài, phân bố, giá trị và các mối đe dọa tới loài Giổi na hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn loài Giổi na tại Quản Bạ - Hà Giang.
1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Họ Ngọc lan (Magnoliaceac) trên thế giới có 17 chi, khoảng 300 loài phân bố chủ yếu ở Đông Nam Châu Á, Trung Mỹ, Đông và Nam Bắc Mỹ. Là một họ nguyên thủy và đóng vai quan trọng đối với khoa học, là chìa khóa cho sự hình thành khái niệm về hoa của thực vật Hạt kín (Angiospermac). Bên cạnh đó hầu hết các loài trong họ có tiềm năng sử dụng to lớn trong lĩnh vực cảnh quan bởi vì cây đẹp, hoa thơm hay đƣợc dùng làm thuốc và gia vị.
Chính vì vậy, các loài trong họ Ngọc lan đã đƣợc sử dụng và nghiên cứu từ rất lâu. Trong những năm 650 trƣớc Công nguyên, nhữmg nhà sƣ ở Trung Quốc đã trồng cây Magnolia denudata làm cảnh ở chùa bởi vì hoa màu trắng tinh khiết và thơm (Callaway, 1994). Năm 1703, Charles Plumier (1646 - 1704) đã công bố một loài mới (Magnolia plumierii) ở miền Tây Ấn (West Indian species) trên "Plantarum Americanarum Genera 38" để ghi nhận những công lao khoa học cho nhà thực vật học ngƣời Pháp - Pierre Magnol (1638 - 1715), một giáo sƣ về cây thuốc, đồng thời làm giám đốc vƣờn thực vật ở Montpellier, Pháp. Tên Magnolia sau đó đƣợc nhà thực vật học ngƣời Thụy Điển Carolus Linnaeus (Caroli Linnaci) (1707- 1788) sử dụng trong tác phẩm Genera Plantarum I, 1937" để mô tà cho loài thực vật ở Bắc Mỹ (Magnolia glauca), sau này đƣợc chuẩn hóa với tên Magnolia virginiana L.
Đó là sự xuất hiện và ra đời chính thức của tên Magnolia và sau này chính là tên của họ Ngọc lan - Magnoliaceae. Tiếp sau đó, Linnaeus (1753) trong tác phẩm 'Species Plantarum' đã đề cập tới 8 loài thuộc 3 chi, đó là: Lirioden ron L. 2 - Joannis De Loureiro (1790) tiếp tục mô tả 3 loài mới từ Ma Cao, Trung Quốc trong' Flora Cochichinensis: Liriodendron lilifera, L figo và L coco. Pyramo De Candolle (1824) trong công trình Prodromus Systematis Naturalis' đã đƣa ra hệ thống cho Magnoliaccae với 2 tông, 9 chi nhƣ sau: -D.
Baillon (1866) trong RECUEIL PÉRIODIQUE D'OBSERVATIONS BOTANIQUES: Ménoire sur la Famille des Magnolicćes' cho rằng các dấu hiệu để tách biệt các chi Magnolia, Manglietia, Michelia và Talauma là quá yếu và ông đã đề xuất hệ thống rút gọn gôm 02 chi nhƣ sau: Magnolia L. Tiếp sau này, có một số các tác giả cũng đà đề cập đến hệ thống học của họ Magnoliaceae, trong đó cũng có một vài sai khác trong việc sử dụng vị trí của các chi hay nhánh trong hệ thống (Miquel 1868, George King 1891, Paul Parmentier 1895). Tiếp đến là thời kỳ áp dụng rộng khắp hệ thống học họ Ngọc lan của Dandy trong suốt nửa đầu thể kỷ 20, khởi đầu trong tác phẩm của ông năm 1927 “The Genera of Magnoliaceae". Trong đó ông đã mô tả 4 chi mới là Alcimandra, Pachylarna, Knmeria, Elmnerrillia và khôi phục lại chi Aromadendron do Blume (1825) đề xƣớng.
Tiếp đó Dandy (1964, 1974) tiếp tục chấp nhận hai chi Paramichelia H. Hu (1940) và Tsoongiodendron W. Chun (1963) và đềể xuất hệ thồng họ Ngọc lan với 12 chi: Manglietia Blume, Magnolia L. Parakmeria Hu & Cheng.
Aromadendron Blume, Pachylarnax Dandy, Kmeria Dandy, Elmerrillia Dandy, Michelia L., Paramichelia Hu, Tsoongiodendron Chun và Liriodendron L. Khuôn mẫu của Dandy là nền tảng cho nhiều nhà thực vật học trên thế giới mô tả và đề xuất các taxon và các hệ thống khác nhau nhƣ: Hu et W. Cheng (1951) với Paramanglietia, G. Lozano- Contreras với Dugandiodendron Lozano (1975), Yu Hu Liu (Yuh Wu Law) với Manglietiastrum Law (1979) và Woonyoungia Law (1997), Z X.
Yu (1994) với Sinomanglietia. Đây là thời kỳ hoàng kim của hệ thống học họ Ngọc lan và nó vẫn lan tỏa và ngày nay vẫn 3 đƣợc nhiều nhà thực vật học kế thừa và áp dụng (Nooteboom, 1985; Chen & Nooteboom, 1993; Xia et al. Đây cũng là thời kỳ mà nhiều taxa đƣợc mô tả mới cho khoa học và cung cấp những thông tin rồi rào về đa dạng loài và đa dạng về phân loại. Một khuynh hƣớng trong phân loại và hệ thống học của họ Ngọc lan phải kể đến công bố Notes on Magnoliaceae IV' của Richard B.
Trong đó hai tác giả đã rút gọn tất cả các taxa trong phân họ Magnolioideae trong các hệ thống của các tác giả khác vào một chi duy nhất - Magnolia với 3 phân chi là: Magnolia (8 sections và 7 subsections). Việc đƣa ra hệ thổng mới nhƣ trên của Figlar & Nootcboom (2004) cũng gặp phải những phản đối nhất định từ một số không nhỏ những nhà thực vật học, nhất là các nhà nghiên cứu Trung Quốc và một số nhà nghiên cứu Hàn Quốc. Bên cạnh các công trình về hệ thống học, các nƣớc còn xây dựng những bộ thực vật chí và những bộ sách chuyên khảo. Đây là những công trình có giá trị giúp cho việc tra cứu phân loại và đánh giá tính da dạng thực vật cho các vùng miền khác nhau.
Các công trình có giá trị nhƣ bộ thực vật chí (gồm cả phần ảnh màu) họ Ngọc lan của Trung Quốc (2008), chuyên khảo về họ Ngọc lan của Thái Lan (2009), v. Trong những năm gần đây, khi điều kiện kỹ thuật đã phát triển, các nghiên cứu trong phân loại thực vật không chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu và phân tích hình thái ngoài mà đã có nhiều nghiên cứu có sử dụng các kỹ thuật của sinh học phân tử. Phƣơng pháp nghiên cứu sinh học phân tử không thể thay thể phƣơng pháp hình thái so sánh, tuy nhiên lại đóng góp rất lớn khi nghiên cứu mối quan hệ phát sinh của các loài trong các nhóm taxon. Một loạt các nghiên cứu về phân tử và hệ thống phát sinh của các tác giả: Qiu et al.b: Azuma et al.
1999, 2000, 2001, 2004: Ueda et al. 2000; Shi et al. 2000; Kim et al. 2001 a,b; Wang et al.
2006; Nie et al. Đã cung cấp các khía cạnh khác nhau về mối quan hệ của các taxon trong họ, tuy nhiên các kết quả cũng còn hạn chế 4 vì các giá trị 'supporting values' còn thấp, cây nguồn gốc còn bị phân tán hay 'basal group' trong Magnolioideae còn chƣa chắc chắn. Nic ct al. (2008)) đã sử dụng 3 gen nhân PHYA, LFY và GAIl để xây dựng mối quan hệ phát sinh và lịch sử địa lý sinh học của họ Ngọc lan và kết quả chỉ ra rằng có 12 nhóm là đơn nguồn (monophyletic) rõ rệt trong họ.
Bên cạnh đó một số các nghiên cứu khác cũng đã cung cấp thêm nhiều dẫn liệu về mối liên hệ phát sinh chủng loại các loài trong họ và đó chính là nền tảng gợi ý cho sự hình thành các hệ thống phân loại trong thời kỳ mới. Xia Nian - He (2012) đã đề xuất một hệ thống mới cho Magnoliaceae dựa vào nhiều dẫn liệu phân tử và hình thái khác nhau. Trong hệ thống này, tác giả đã phân chia thành 16 chi trong phân họ Magnolioideac. Chi Manglietia Blume bao gồm 2 phân chi là Manglietia và Sinomanglietia (ZX Yu & Q.
Xia (với 2 sections: Manglietia và Coniferae N. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu do các tác giả là ngƣời Việt Nam nghiên cứu thì còn rất hạn chế. Tuy nhiên, có một số công trình của các nhà thực vật học ngƣời nƣớc ngoài có thế kể đến là: Loureiro (1790), Finet and Gagnepain (1906, 1907), Chevalier (1918), Dandy (1927, 1928, 1929, and 1930), Gagnepain (1938, 1939). Joannis De Loureiro (1790), nhà truyền giáo và tự nhiên học ngƣời Bồ Đào Nha, đã cỏ nhiều công trình về thực vật tại miền Nam Việt Nam (Cochinchina).
Ong đã có những ghi nhận đầu tiên về các loài thực vật thuộc họ Ngọc lan ở Việt Nam trong tác phẩm 'Flora Cochinchincnsis". Trong đó đã ghi nhận 4 loài thuộc 2 chi, đo là: Liriodendron lilifera, L. coco and Michelia champaca (sau này đƣợc nhận diện là Magnolia lilifera, Michelia figo, Magnolia coco và Michelia champaca). Finet and Gagnepain (1906, 1907) trong Flore de L'Asie Orientale' and 'Flore Générale de L'lndo - Chine' cũng đà ghi nhận 4 loài: Michelia champaca, 5 M.
figo, Magnolia pumila, Manglietia glauca và mô tà 2 loài mới: Talauma fistulosa và Michelia baviensis cho hệ thực vật Việt Nam. Tiếp đến, Gagnepain (1938, 1939) đã mô tả 2 loài mới cho khoa học từ các mẫu vật Việt Nam, đó là: Manglietia blaoensis và Michelia braianensis; 2 thứ mới: Magnolia annamensis Dandy var. affinis và Magnolia eriostepta Dandy var. Trong công trình này, ông đã tổng kết và ghi nhận các loài Ngọc lan ở Việt Nam là 39 loài, 3 thứ.
Những công trình nghiên cứu về họ Ngọc lan do ngƣời Việt nghiên cứu thi rất còn hạn chế.