MỞ ĐẦU Thực vật trên thế giới rất phong phú và đa dạng. Hiện nay ước tính có đến khoảng 285.650 loài thực vật đã được phát hiện. Việt Nam là một đất nước khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có nhiều điều kiện rất thuận lợi cho các loài sinh vật phát triển. Theo các số liệu thống kê, thảm thực vật Việt Nam có trên 12.
Trong số đó có trên 3200 loài được sử dụng làm thuốc trong y học dân gian [1]. Tuy nhiên, phần lớn các loài thực vật ở Việt Nam hiện chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhất là về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học do đó chưa đủ cơ sở khoa học. Gần đây, xu hướng tìm kiếm một số hoạt chất mới trong các loài thảo mộc có tác dụng chữa bệnh ngày một tăng và thu hút nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Một số loài thực vật đã được đưa ra làm thuốc hoặc thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị như Dây thìa canh, Trinh nữ hoàng cung, Hoàng liên, Hoàng cầm, Nghệ… Điều đáng chú ý là các sản phẩm này sử dụng an toàn, ít tác dụng phụ, ít hiện tượng nhờn thuốc.
Lan thạch hộc (Dendrobium officinale) là một loài thuộc chi Dendrobium, họ Lan (Orchidaceae). Ngoài giá trị thẩm mỹ, nó còn có giá trị dược liệu được sử dụng phổ biến trong nền y học cổ truyền của nhiều nước châu Á. Theo các tài liệu dược học cổ truyền, Thạch hộc tía có tác dụng bổ âm, tân sinh, chữa chứng hỏa hư, trị đau dạ dày, đau thượng vị, bồi bổ đôi mắt, chống lão hóa [2]. Các nghiên cứu gần đây khẳng định giá trị dược học của loại thảo dược này về khả năng kháng khuẩn, chống oxy hóa, tăng cường hệ miễn dịch, ức chế tế bào ung thư, điều hòa đường huyết, cải thiện hoạt động của hệ tiêu hóa, ổn định hệ vi sinh đường ruột [2].
Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá về thành phần hóa học, thành phần dược lý và sàng lọc các chất có hoạt tính sinh học tiềm năng từ các loài thực vật trong chi Dendrobium, đặc biệt như loài Lan Thạch Hộc sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Hơn nữa, nghiên cứu này sẽ góp phần tích cực vào việc khai thác và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào của đất nước. Từ những lý do trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần Saponin và hoạt tính ức chế enzyme -glucosidase và -amylase từ cây Lan thạch hộc (Dendrobium officinale Kimura & Migo)” Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất từ loài Lan thạch hộc (Dendrobium offcinale). Khảo sát và đánh giá được tác dụng hạ đường huyết trên cơ sở hoạt tính ức chế enzyme -glucosidase và - amylase của các hợp chất phân lập được.
2 Nội dung luận văn bao gồm: 1. Tạo dịch chiết và các phân đoạn cao chiết; 2. Phân lập các hợp chất sạch từ loài Lan thạch hộc (Dendrobium offcinale) bằng các phương pháp sắc ký; 3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp vật lý, hóa học; 4.
Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các hợp chất phân lập được Những đóng góp của luận văn: - Lần đầu tiên phân lập và xác định cấu trúc được 1 hợp chất mới và được đặt tên là Dendrocinaoside F (Hợp chất DO9). - Lần đầu tiên 07 hợp chất phân lập từ loài Lan thạch hộc (Dendrobium offcinale) được thử tác dụng ức chế enzyme -glucosidase và -amylase. Kết quả hợp chất DO13 và DO14 ức chế cả 2 enzym -glucosidase và enzym α-amylase mạnh hơn cả đối chứng acarbose (một dược chất đang được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân bị tiểu đường). - Hợp chất DO9 và DO15 cả 2 enzym -glucosidase và enzym α-amylase - Hợp chất DO10 và DO12 ức chế 1 enzym α-amylase còn hợp chất DO11 ức chế 1 -glucosidase.
Tổng quan về chi Dendrobium 1. Giới thiệu chung về chi Dendrobium Chi Dendrobium thuộc họ lớn Orchidaceae (Phong lan), có khoảng l.400 loài trên toàn thế giới phân bố từ châu Á nhiệt đới đến châu Đại Dương [3]. Trong nền Y học cổ truyền Trung Quốc có 9 loại “Đại thiên thảo”: Lan Thạch hộc tía, Thiên sơn tuyết liên, Nhân sâm, Đông trùng hạ thảo, Bách niên thủ ô, Hoa giáp phục linh, Đại mạc tùng dung, Thiên sơn linh chi, Chân châu đáy biển. Lan thạch hộc tía được coi là loài dược liệu rất có giá trị trong 9 loài này.
Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale Kimura et Migo) phân bố ở một số quốc gia trên thế giới như: Nhật Bản, Hoa Kỳ và Úc, Trung Quốc và Việt Nam [4]. Nghiên cứu dược lý cho thấy than cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) và thành phần polysaccharide của nó có tác dụng chống ung thư, bảo vệ gan, giảm lipid máu, chống mệt mỏi, chống oxy hóa, chống táo bón, hạ đường huyết, loét dạ dày tác dụng bảo vệ và hạ huyết áp, tăng cường miễn dịch… [5,6,7]. Các nghiên cứu về chi Dendrobium 1. Tác dụng dược lý của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) Gần đây, ngày càng có nhiều tác dụng dược lý của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) được báo cáo, chẳng hạn như tác dụng hạ đường huyết, hạ lipid máu và hạ huyết áp bảo vệ gan, chống ung thư, chống mệt mỏi và chữa viêm loét dạ dày.
- Tác dụng hạ đường huyết: tác dụng hạ đường huyết, một đặc tính quan trọng của thân cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale), đã được nghiên cứu rất nhiều. Uống DOP (Dendrobium officinale polysaccharide: cặn chiết chứa polysaccharide của thân cây Lan thạch hộc tía) làm giảm nồng độ đường huyết lúc đói (FBG) và protein huyết thanh glycosyl hóa (GSP) và tăng nồng độ insulin huyết thanh ở chuột mắc bệnh tiểu đường do dị ứng alloxan. Ngoài ra, DOP làm giảm sự xuất hiện của stress oxy hóa trong gan và thận của chuột mắc bệnh tiểu đường do alloxan gây ra. Do đó, DOP có thể điều chỉnh lượng đường trong máu thông qua quá trình cân bằng lipid máu và các tổn thương chống oxy hóa gây ra cho gan và thận [8].
Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có tác dụng hạ đường huyết đáng kể ở chuột bị tăng đường huyết do adrenaline và chuột mắc bệnh tiểu đường do streptozotocin (STZ- DM) [9]. Ngoài ra, các nhóm TP (tổng polysaccharid, 100mg / kg), TF (tổng số flavonoid, 35mg / kg) và TE (chiết xuất nước, 6 g/kg) của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) đã điều chỉnh đáng kể quá trình phosphoryl hóa của JNK (Thr183 / Tyr185) và điều chỉnh quá trình phosphoryl hóa của AKT ser473 so với nhóm đối chứng bình thường, điều này cho thấy rằng các chiết xuất của Lan thạch 4 hộc tía (Dendrobium officinale) có tác dụng ức chế phosphoryl hóa JNK và thúc đẩy quá trình phosphoryl hóa AKT ser473 [10]. - Tác dụng hạ lipid máu và hạ huyết áp: Người ta nhận thấy rằng thân cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có tác dụng hạ lipid máu và hạ huyết áp. Dung dịch bột thân cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có thể làm giảm đáng kể mức TG, TCHOL và LDL-C trong huyết thanh và làm giảm sự biểu hiện của TNF-α và IL-6 ở chuột [11].
Ngoài ra, nó có thể làm giảm các khu vực mảng xơ vữa trong van và vòm động mạch chủ ở chuột và sự biểu hiện của TNF- và IL-6 trong vòm động mạch chủ. Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian sống và tỷ lệ sống sót của chuột bị tăng huyết áp tự phát (SHR- sp) khi uống DOP tốt hơn đáng kể so với uống cao chiết thân cây Lan thạch hộc tía không chứa polysaccharide [12]. - Tác dụng bảo vệ gan: Khả năng bảo vệ gan của thân cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) liên quan đến khả năng chống oxy hóa, đặc biệt là trong tổn thương gan do rượu cấp tính hoặc mãn tính. Nghiên cứu cho thấy rằng các polysaccharid Dendrobium officinale (DOP) tăng tốc quá trình chuyển hóa TG và TC trong huyết thanh, đồng thời tăng hoạt động của gan, giúp phục hồi các rối loạn chuyển hóa lipid và đẩy nhanh quá trình bài tiết rượu và các chất chuyển hóa của nó [13].
- Tác dụng chống ung thư: Hoạt tính chống ung thư của dịch chiết thân cây Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) đã được nghiên cứu và chứng minh có tác dụng ức chế sự phát triển các dòng tế bào ung thư Hela, HepG2 và HCT-116 in vitro, cũng như CNEl và CNE2 trên thử nghiệm in vivo và in vitro [14]. Ngoài ra, DOP thể hiện tác dụng chống ung thư ở chuột ung thư biểu mô phổi (LLC). Tỷ lệ ức chế khối u của nó là 8,5% - 18,3% (P > 0,05) [15]. Trong các thí nghiệm về hình thái học tế bào, Liu đã chỉ ra DOP có thể ức chế sự phát triển tế bào ung thư gan (HepG2), tế bào ung thư phổi (A549), tế bào u ác tính ở người (NCCIT) và u ác tính (F9) [16].
Hoạt tính chống ung thư của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có thể đi kèm với tác dụng cải thiện hệ thống miễn dịch. - Tác dụng chống mệt mỏi: Tác dụng chống mệt mỏi của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) được minh họa trên in vivo, khi so sánh với các nhóm đối chứng; Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có thể tăng lượng glycogen dự trữ trong quá trình tập thể dục và làm giảm mức độ tích tụ urê huyết thanh và axit lactic [17]. Ngoài ra, so với các nhóm đối chứng, Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) làm tăng đáng kể các chỉ số thanh thải carbon và làm giảm axit lactic trong huyết thanh [18]. - Tác dụng chữa viêm loét dạ dày: Nghiên cứu cho thấy rằng Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) có tác dụng ngăn ngừa tổn thương dạ dày gây ra bởi dung 5 dịch axit clohydric 60% ethanol [19].
Nước ép Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) mới vắt cho thấy giảm đáng kể chỉ số loét trên mô hình loét dạ dày do hóa chất và kích thích [20]. - Độc tính của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale): Thử nghiệm độc tính cấp tính, độc tính di truyền và thử nghiệm cho ăn trong 90 ngày ở chuột, kết quả cho thấy rằng các protocorms của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) không có độc tính, độc tính di truyền và khả năng gây đột biến trong phạm vi liều thử nghiệm [21]. Hơn nữa, nước sắc 15% của Lan thạch hộc tía (Dendrobium officinale) được sử dụng để thử nghiệm dị dạng tinh trùng của chuột, thử nghiệm Ames và thử nghiệm vi nhân của tủy xương, tất cả các kết quả xét nghiệm đều âm tính. Ngoài ra, thử nghiệm độc tính cấp tính qua đường miệng cho thấy liều cao nhất là 10 g/kg thể trọng không độc hại [22].