LỜI MỞ ĐẦU Thế kỷ XXI là thế kỷ mà khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng. Cùng với sự phát triển đó, những căn bệnh nguy hiểm và gắn liền với những thói quen có hại cho sức khỏe ngày nay như rượu bia, dùng nhiều đồ ngọt, thiếu thể dục thể thao, … cũng ngày càng ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, làm giảm chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng đến kinh tế xã hội. Số lượng người mắc các căn bệnh nguy hiểm ngày càng gia tăng, trong đó bệnh gout là một căn bệnh khớp với nhiều biến chứng nguy hiểm ngày càng ảnh hưởng đến cuộc sống sức khỏe của cộng đồng. Nguy hiểm hơn là qua những thống kê dịch tễ học, số lượng người mắc bệnh gout có sự gia tăng nhanh chóng và ngày càng trẻ hóa đanh lên hồi chuông báo động cho nhu cầu nghiên cứu giải pháp hạn chế sự bùng nổ của căn bệnh này.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chăm sóc sức khỏe ngày càng được nhiều người chú trọng hơn. Các loại thuốc tây y dùng trong chữa bệnh đã rất quen thuộc với con người, ngày càng đa dạng, phong phú và mang đến hiệu quả tức thì cho người bệnh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, người ta quan tâm đến các tác dụng phụ gây ra khi sử dụng thuốc lâu dài. Do đó, các hợp chất tự nhiên trong các thảo dược thiên nhiên ngày càng được con người quan tâm vì khả năng chữa bệnh cũng như hỗ trợ chăm sóc sức khỏe con người mà không hề gây ra hoặc gây ra rất ít tác dụng phụ không mong muốn.
Vì vậy, các nghiên cứu sử dụng thực vật để chữa bệnh gout ngày càng nhiều để tìm kiếm loài thực vật hỗ trợ tốt việc điều trị bệnh mà không lo ngại về vấn đề tác dụng phụ cũng như các biến chứng mà bệnh gây ra. Việt Nam là đất nước có hệ thực vật vô cùng phong phú, đa dạng, với thảm thực vật hơn 12,000 loài cùng với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp, một số loài thực vật còn chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, hơn 36% loại thực vật đã được chứng minh có đặc tính sinh dược. Từ xa xưa, dân gian Việt Nam đã biết sử dụng cây cỏ như một nguồn thảo dược tự nhiên để chữa bệnh. Tác dụng chữa bệnh của một số loại thảo dược tuy không thể so sánh được với thuốc nhưng chúng có ưu điểm là rẻ tiền, nguồn nguyên liệu dồi dào, và đặc biệt là hạn chế các tác dụng phụ 1 mà thuốc gây ra.
Từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu hướng đến việc tìm hiểu, so sánh và tiến hành sàng lọc một số loại thực vật được sử dụng làm dược liệu, trong các bài thuốc dân gian hoặc trong chính bữa ăn hàng ngày nhằm tìm ra thực vật có khả năng điều trị bệnh gout bằng cách ức chế enzyme xanthine oxidase tốt nhất. Đồng thời, xác định điều kiện trích ly thực vật có hoạt tính ức chế xanthine oxidase tốt nhất và xác định các hoạt tính sinh học khác hỗ trợ cho việc điều trị bệnh gout và các biến chứng của gout.1 Dịch tễ học bệnh gout Bệnh gout là một loại bệnh viêm khớp phổ biến nhất thế giới và liên quan đến việc gia tăng nồng độ acid uric trong máu, đặc trưng bởi hiện tượng lắng đọng tinh thể urate trong khớp và mô liên kết [1]. Theo những nghiên cứu dịch tễ học từ các quốc gia khác nhau, việc gia tăng tỉ lệ mắc bệnh gout trong cộng đồng sẽ dẫn đến tổn thất đáng kể về kinh tế đối với một quốc gia [2]. Theo dữ liệu trong nghiên cứu về Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu năm 2017 (Global Burden of Disease Study) có gần 41.2 triệu người trưởng thành mắc bệnh gout, con số này đã tăng gần gấp đôi so với số liệu năm 1990 là 20,2 triệu người [3].
Tỉ lệ mắc bệnh gout trung bình trên toàn cầu từ 1% đến 4%, tỉ lệ mắc mới hằng năm trong khoảng từ 0,3 đến 6 ca mắc mới tính trong 1000 người [4-6]. Ở một số quốc gia, tỉ lệ mắc bệnh gout có thể lên tới 10% tổng dân số [8]. Hầu hết các quốc gia phát triển có tỉ lệ gia tăng số lượng bệnh nhân mắc bệnh gout cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển [7, 8]. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có tỉ lệ mắc bệnh gout cao nhất toàn thế giới, với một số nước có tỉ lệ mắc hơn 10% [6].
Ngoài ra, khu vực châu Âu, Bắc Mỹ và các quốc gia phát triển ở châu Á đều được ghi nhận với tỉ lệ mắc bệnh gout cao và tăng lên theo từng năm [5, 6]. Tỉ lệ mắc bệnh gout cũng thay đổi dựa trên độ tuổi và giới tính. Tỉ lệ mắc bệnh gout đối với nam giới cao hơn ở nữ giới, đặc biệt tỉ lệ mắc bệnh gout tăng cao ở những đối tượng trung niên và người cao tuổi [5, 6, 9]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Khoa Xương khớp bệnh viện Bạch Mai, trong vòng 20 năm (1978-2000) tốc độ gia tăng của bệnh nhân gout rất đáng báo động, cụ thể là tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh gout tăng từ 10% đến 15%.
Theo thống kê của chương trình định hướng cộng đồng về kiểm soát bệnh thấp khớp (COPCORD) năm 2013 tại Hà Nội, tỉ lệ mắc bệnh gút khoảng 0,14% [10]. Sự gia tăng của tỉ lệ mắc bệnh gout và số ca mắc mới hàng năm liên quan mật thiết đến lối sống không lành mạnh hiện nay bao gồm chế độ ăn nhiều purine đặc biệt là thịt và hải sản, đồ uống có cồn nhất là bia và rượu mạnh cùng với các thức uống 3 nhiều đường fructose dẫn đến hội chứng chuyển hóa với bệnh béo phì, mỡ trong máu, lão hóa nhanh [11, 12]. Những nghiên cứu trên đã chỉ ra mối nguy hại và sự bùng nổ nhanh chóng của bệnh gout, điều này đặt ra nhu cầu cấp bách cho những nghiên cứu về phương pháp điều trị bệnh gout để làm chậm xu hướng phát triển của căn bệnh này. Tỉ lệ mắc bệnh gout chuẩn hóa theo độ tuổi tính trên 100,000 dân số năm 2017 1.2 Tổng quan về bệnh gout 1.
Lịch sử sơ lược và định nghĩa Bệnh gout được xem như một trong những căn bệnh lâu đời nhất trên thế giới với lần đầu tiên được ghi nhận bởi người Ai Cập cổ đại vào năm 2640 trước Công nguyên. Sau đó, ca bệnh gout cấp tính đầu tiên được Hippocrates phát hiện vào thế kỷ XV trước Công nguyên và đặt tên là “unwalkable disease”, có nghĩa là căn bệnh không thể đi lại được. Thuật ngữ bệnh gout bắt nguồn từ tiếng Latinh “gutta” có nghĩa là “rơi”, xuất phát từ một quan niệm y học thời trung cổ cho rằng trong cơ thể có 4 loại “chất dịch” quan trọng giúp duy trì cơ thể khỏe mạnh, khi một trong bốn loại 4 “chất dịch” này dư thừa sẽ “rơi” vào khớp gây đau và viêm. Trong những tài liệu lịch sử, bệnh gout đều gắn liền với việc sử dụng nhiều những thức ăn bổ dưỡng và uống nhiều bia rượu, gắn liền với lối sống của những nhà giàu, quý tộc thời xưa.
Chính vì điều này, bệnh gout còn được ví như “căn bệnh của vua chúa” [13]. Về lịch sử phát triển của các thuốc điều trị bệnh gout, colchicine là một loại alkaloid có nguồn gốc từ cây nghệ tây (Colchicum autumnale) đã được dùng như một loại thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh gout bởi một thầy thuốc cơ đốc giáo tên là Alexander vào thế kỷ VI sau Công nguyên [14]. Vào cuối thế kỷ XIX, lần đầu tiên thuốc tăng đào thải acid uric ở niệu đạo được sử dụng trong điều trị bệnh gout [13]. Hiện nay, thuốc kháng viêm không steroid thường dùng để điều trị bệnh gout cấp tính [15].
Có lẽ tiến bộ quan trọng nhất trong việc điều trị bệnh gout là sự phát hiện và ứng dụng của các hợp chất ức chế enzyme xanthine oxidase nhằm hạn chế tăng acid uric máu, điển hình là hiệu quả trong việc làm giảm nồng độ urate trong huyết tương và nước tiểu. Các hợp chất ức chế enzyme xanthine oxidase đã được chứng minh là có thể ngăn cản sự phát triển của các tinh thể urate lắng đọng tạo thành hạt tophi [16]. Tinh thể urate lắng đọng trong các khớp Gout được định nghĩa là bệnh được gây ra bởi sự lắng đọng tinh thể mononatri urate (MSU) tại dịch khớp và các mô liên kết (Hình 1. Việc hình thành các tinh thể urate tiền đề là do việc tăng acid uric huyết thanh (SUA) trên một ngưỡng cụ thể.
Việc chuẩn đoán bệnh gout phụ thuộc vào việc xác định các vi tinh thể trong dịch khớp và các mô. Giai đoạn lâm sàng của bệnh gout Bệnh gout là một bệnh mạn tính và sẽ tiến triển theo ba giai đoạn lâm sàng nếu không được điều trị đúng cách bao gồm bệnh gout cấp tính, gout không triệu chứng và bệnh gout mạn tính [18]. Viêm khớp gout cấp tính là giai đoạn biểu hiện phổ biến nhất của bệnh gout xuất hiện liên quan đến tình trạng viêm cấp tính do kết tủa tinh thể urate trong khớp. Cơn gout cấp là một phản ứng viêm dữ dội do lắng đọng các tinh thể urate monosodium trong khớp hoặc các mô mềm khác.
Viêm khớp thường xuất hiện ở một khớp và ảnh hưởng tới các khớp ngoại vi. Những biểu hiện ban đầu thường xuất hiện ở khớp chi dưới nhưng khi bệnh nặng hơn có thể ảnh hưởng tới khớp ở các vị trí khác. Ở giai đoạn đầu của bệnh các đợt gout cấp thường không liên tục, từng đợt. Viêm khớp cấp tính gây ra những cơn đau kèm theo sưng khớp và nóng đỏ, tình trạng này bùng phát nhanh và gây đau dữ dội trong vòng 6 đến 24 tiếng và thường kéo dài từ 3 đến 10 ngày [19].
Giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể gặp khoảng 2 đến 3 cơn gout cấp trong một năm. Khi bệnh tiến triển có thể hơn 12 cơn gout cấp trong một năm. Khi những cơn gout cấp tính của bệnh gout lặp đi lặp lại trong vòng nhiều năm, bệnh nhân vào giai đoạn của viêm khớp mạn tính. Giai đoạn giữa các cơn gout cấp tính được gọi gout không triệu chứng.
Trong giai đoạn này, mặc dù không có các biểu hiện lâm sàng nhưng bệnh vẫn phát triển với sự rút ngắn thời gian giữa các cơn gout cấp do tích tụ tinh thể urate trong cơ thể ngày càng nhiều. Viêm khớp gout mạn tính là giai đoạn cuối của bệnh gout.