Đặt vấn đề Thổ sâm (Talinum Paniculatum (Jacq.)Gaertn là loại cây thân thảo được biết đến với giá trị dược liệu cao được sử dụng như một bài thuốc quý điều trị bệnh ở người đồng thời rất tốt cho cơ thể con người giúp bổ trung ích khí, nhuận phế sinh tân. Dân gian thường dùng Thổ sâm để chữa các bệnh như suy nhược ốm yếu, hỗ trợ điều trị ho lâu ngày cũng như chữa các bệnh về cao huyết áp, bệnh gan và giúp giải độc gan nhưng chỉ có hai bộ phận của cây được chú trọng nghiên cứu nhiều nhất là lá và củ do có giá trị dược liệu cao. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây thổ sâm cho thấy, trong lá có rất nhiều các hợp chất có hoạt tính sinh học khác nhau có khả năng kháng oxi hóa, có khả năng tạo phức với các ion kim loại nên có tác dụng như những chất xúc tác ngăn cản các phản ứng oxi hoá. Tyrosinase (monophenol, o-diphenol: oxy oxidoreductase, EC (1.1) là một enzyme oxi hóa, đều thể hiện hoạt tính kháng oxi hóa.
Các chất hoá học trong lá được chứng minh có hoạt tính kháng oxi hóa mạnh, có tiềm năng trong việc điều chế các loại thuốc chữa trị các bệnh liên quan tới gốc tự do như bệnh ung thư. Một số công trình đã chứng minh Thổ sâm thu nhận tại Ấn Độ chứa một lượng lớn các hợp chất thể hiện nhiều hoạt tính sinh học như: chống oxi hóa, có khả năng tạo phức với các ion kim loại nên có tác dụng như những chất xúc tác ngăn cản các phản ứng oxi hóa và ức chế hoạt tính enzyme tyrosinase. Đồng thời hiện nay, các bằng chứng khoa học cho thấy sự gia tăng nồng độ các gốc tự do trong tế bào là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên các vấn đề bệnh tật như: xơ vữa động mạch, tiểu đường, ung thư. Vì vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới không ngừng tìm tòi và sàng lọc các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên để giải quyết các vấn đề trên.
Do đó, nghiên cứu về khả năng chống oxi hóa và ức chế hoạt tính enzyme tyrosinase là một vấn đề thiết thực. Trong phương pháp này đã nghiên cứu khả năng chống oxi hóa và ức chế hoạt 1 tính enzyme tyrosinase bằng các phương pháp thể hiện qua kết quả thí nghiệm. Trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về khả năng chống oxi hóa và ức chế hoạt tính enzyme tyrosinase. Tuy nhiên, đến nay có rất ít công bố về các phương pháp cụ thể để chứng minh khả năng chống oxi hóa và ức chế hoạt tính của enzyme tyrosinase, vì vậy việc phát triển các nghiên cứu cây Thổ sâm để nhiều người dân có thể biết tới công dụng của Thổ sâm cho việc chăm sóc sức khỏe là rất cần thiết, đề tài: “Nghiên cứu khả năng chống oxi hóa, ức chế hoạt tính của enzyme tyrosinase của dịch chiết cây Thổ sâm (Talinum Paniculatum Jacq.” được thực hiện.
Mục đích, yêu cầu 1.Mục đích Đánh giá khả năng chống oxi hóa, ức chế hoạt tính của enzyme tyrosinase của dịch chiết cây thổ sâm (Talinum paniculatum jacq.Yêu cầu Nghiên cứu tách chiết thu dịch chiết và cao chiết của Thổ sâm (Talinum paniculatum jacq. Đánh giá khả năng chống oxi hóa của dịch chiết Thổ sâm (T. Đánh giá khả năng ức chế hoạt tính enzyme tyrosinase của dịch chiết cây Thổ sâm (T. PHẦN II 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về cây Thổ sâm 2.1 Nguồn gốc cây Thổ sâm Thổ sâm (Talinum Paniculatum (Jacq.) có tên gọi khác là thổ sâm Cao Ly hay đơn giản sâm đất,.
là loại cây thảo dược mọc tự nhiên khắp nơi trên thế giới (Petprai et al. Ở Việt Nam, Thổ sâm vừa là cây mọc tự nhiên, vừa là cây trồng để làm thuốc. Theo một chuyên gia nghiên cứu cây thuốc dân tộc cổ truyền cho biết, Thổ sâm có nguồn gốc từ châu Mỹ nhiệt đới, du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1909, sau đó mọc hoang khắp nơi, ra hoa quanh năm.2 Đặc điểm phân loại và hình thái cây Thổ sâm Phân loại: Thổ sâm có tên khoa học là: Talinum Paniculatum (Jacq. Đồng danh: Talinum Triangulare (Jacq.
(Portulaca Triangulare Jacq); Talinum Patens (Gaertn.) Willd; Talinum Fruticosum (L. Thổ sâm thuộc chi Sâm Mùng Tơi (Talinum), họ Rau Sam (Portulacaceae), bộ Cẩm Chướng (Caryophyllales), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), giới thực vật (Plantae). Ngoài ra, cây Thổ sâm còn có tên gọi khác như: Sâm Cao Ly, Thổ Sâm Cao Ly, Giả nhân sâm, Sâm thảo, Sâm đất, Đông dương sâm, Cứa ly sinh (Thái), Mằm sâm đăm (Tày). Hình thái: Cây thảo mọc đứng cao tới 0,6m, hoàn toàn nhẵn, phân nhánh nhiều ở dưới.
Lá mọc so le, hình trái xoan thuôn hay hình trứng ngược, thót lại ở gốc thành cuống rất ngắn, dài 5-7cm, rộng 2,5-3,5cm, phiến lá dày, hơi mập, bóng cả hai mặt, mép lá hầu như lượn sóng. Hoa nhỏ, màu hồng, xếp thành chùm thưa ở ngọn thân và các nhánh, dài khoảng 30cm. Quả nhỏ hình cầu khi chín có màu đỏ nâu hay xám tro. Hạt rất nhỏ, dẹt, màu đen nhánh, trên mặt hơi nổi vân.
Cụm hoa là một chùy kép mọc ở đầu cành, gồm nhiều hoa nhỏ đường kính ước 6mm, tràng 5 cánh hoa màu tím đỏ nhạt, đài có 2 răng nhỏ, tràng 5 cánh nhọn, nhị nhiều, bầu thượng hình cầu. Củ gần giống củ nhân sâm. Mùa ra hoa tháng 6-7, có quả tháng 9-10.1 Thổ sâm ngoài tự nhiên Chú thích: 2.1 B: Thổ sâm, Hoa và quả Thổ sâm 2.3 Đặc điểm phân bố cây Thổ sâm Thổ sâm mọc hoang và được trồng làm cảnh ở một số tỉnh của Trung Quốc như: Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Quảng Tây, Quảng Đông, Tứ Xuyên.và cũng dùng làm thuốc bổ thay sâm. Từ sự khác biệt về đặc điểm hình thái của các cơ quan trong cơ thể thực vật, đặc biệt là hoa mà loài cây này gặp nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Nội, Hòa Bình.
Thổ sâm được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc lấy lá làm rau ăn, củ làm thuốc. Cây có thể trồng được ở các vùng lạnh như Lào Cai, Hà Giang… và vùng nóng như đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Ở miền Nam, cây Thổ sâm thường mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh, nhất là trong khuôn viên chùa chiền, thiền viện, tòa thánh… (người ta hay gọi là cây sâm đất).4 Đặc điểm sinh thái, trồng trọt cây Thổ sâm Đặc điểm sinh thái: Thổ sâm ưa đất ẩm nhưng nhiều ánh nắng, rất dễ trồng, có thể thu hoạch lá quanh năm. Khi thu hoạch thì cắt nhánh để đâm chồi, cho ra lứa rau 4 sâm khác.
Ngoài ra, rau sâm còn được trồng trong các chậu kiểng vì cây cho ra hoa bé xinh, phớt hồng rất đẹp. Thổ sâm có thể trồng từ rễ củ hoặc từ hạt. Có thể trồng trong vườn, giá thể khi cây con, trong chậu cảnh hay thùng xốp. Cây mọc khỏe, sau 2-3 tháng có thể hái ngọn và lá làm rau ăn, sau một năm có thể thu hoạch củ, nếu để lâu năm củ sẽ to hơn.
Lá và cành non dùng để nấu với thịt, tôm. Nấu canh rau vị thơm mát dễ chịu gần giống rau mùng tơi. Đặc điểm trồng trọt: Nguồn giống từ hạt Hạt giống sau khi thu hái được xử lí bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) ngâm trong nước khoảng 6-8 giờ, vớt ra để ráo, dùng que nhọn chọc lỗ sâu 1cm rồi cho hạt vào (2- 3 hạt/lỗ), lấp kín đất, dùng lưới che nắng cho luống gieo. Nguồn giống từ hom: Chọn hom: hom được lấy từ thân hoặc củ cây mẹ, lấy từ đoạn gốc đến hết phần bánh tẻ của thân, hạn chế lấy phần ngọn quá non, dễ bị thối gốc khi giâm.
Dùng dao hay kéo sắc để cắt hom. Hom được cắt từ thân có chiều dài khoảng 10-20 cm và ít nhất trên mỗi hom có 3-4 mắt lá, tỉa bớt lá trên hom còn chứa khoảng 1/3 lá, đem giâm vào luống. Thường xuyên tưới ẩm. Sau khi giâm 15-20 ngày hom giâm bắt đầu ra rễ thì đem trồng.
Cách trồng bằng hạt: Cây không kén đất, đất nào cũng mọc được trừ những nơi ngập úng. Đất cày bừa lên thành luống cao 20-25 cm, bón lót 10-15 tấn/ha phân chuồng, rạch thành hàng cách nhau 20 cm. Hạt gieo theo hàng, sau tỉa bớt, giữa các cây cách nhau khoảng cách 10-15 cm. Đất trồng pha trộn theo tỉ lệ: 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục + 10% phân truồng ủ hoai.
Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho đất, đặc biệt vào mùa nắng hạn. Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón thúc bằng nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng. Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non. Thổ sâm ra hoa quả quanh năm, mùa ra hoa tháng 6-7, mùa ra quả tháng 9-10.
Khi quả chín cần thu hoạch kịp thời nếu không quả sẽ bị tách làm hạt bị rụng. Đem phơi cả quả, khi khô đập lấy hạt rồi phơi hạt trong nắng yếu cho khô. Hạt tốt là những hạt đen nhánh, bóng. Bảo quản trong lọ sành, để nơi khô ráo.
5 Thổ sâm thường dùng củ. Loại cây một năm đã có thể thu hoạch rễ củ, nhưng tốt nhất là sau ba năm. Nếu dùng ngay cắt rễ con bỏ đầu để cả vỏ thái miếng, sấy nhẹ lửa (60-70⁰C) cho khô. Nếu để lâu, đồ chín, bỏ rễ con, để cả củ hoặc thái miếng, sấy nhẹ lửa cho khô.
Lúc mới đào rễ có màu hồng đẹp. Đem phơi hay sấy khô và để lâu sẽ có màu đen xám. Khi dùng thái mỏng, tẩm nước gừng hoặc nước đường, đồ chín. Lá thu hoạch quanh năm (Nguyễn Thị Trang, 2016).5 Thành phần hóa học của cây Thổ sâm Nghiên cứu về thành phần hóa học trong cây Thổ sâm, người ta đã phát hiện có các chất phitosterol, saponin, flavonoid, tannin, steroid, các chất vô cơ kali, natri, canxi, magie, sắt.
Trong rễ có các dẫn xuất phenolic, chứa l-hexacosanol, loctacosanol, l-triacontanol, campestrol, stigmasterol, jo-sitostero.6 Tính vị và tác dụng của cây Thổ sâm 2.1 Tính vị của cây Thổ sâm Vị ngọt, tính bình; có tác dụng bổ trung ích khí, nhuận phế sinh tân. Vì lá cây Thổ nhân sâm có vị hơi đắng, cay; tính lạnh, có ít độc nên khi dùng với liều lượng cao có thể gây nôn mửa và ra nhiều mồ hôi. Rễ có vị ngọt, cay, tính mát. Công dụng: thanh nhiệt (hạ sốt), lợi niệu, giải độc.
Chủ trị, toàn cây chữa tiểu đường. Rễ dùng chữa đau răng, đau bụng, cảm mạo, bệnh gan, cao huyết áp, tiểu đường, nhiễm trùng đường tiểu. Kinh nghiệm dân gian ở Nam bộ thường dùng củ sâm đất nấu nước uống làm thuốc bổ.