ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập của người dân đã được nâng lên, đời sống của nhân dân cũng được cải thiện đáng kể. Cùng với sự tăng lên về thu nhập và mức sống của người dân đó là sự tăng lên về các nhu cầu tinh thần và giải trí, trong đó có nhu cầu chơi cây cảnh. Từ xưa, chơi cây cảnh vẫn được coi là một trong những thú chơi tao nhã và thường thấy trong những gia đình giàu sang, những gia đình am hiểu nghệ thuật cây cảnh.
Ngày nay, cây cảnh đã có mặt trong đời sống của con người như một nhu cầu cần thiết về mặt tinh thần, chính vì vậy, nghề trồng cây cảnh đã phát triển và trở thành một nghề sản xuất đem lại lợi ích kinh tế cao cho người sản xuất. Với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và phong tục tập quán sản xuất của mình, xã Minh Tân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng cây cảnh. Trong những năm gần đây, bằng việc phát triển nghề trồng cây cảnh đã đem lại thu nhập cao cho người dân địa phương, từ đó góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao đời sống dân trí cho người dân. Với hiệu quả kinh tế đã khẳng định, rất nhiều diện tích cây trồng khác của xã Minh Tân đã chuyển đổi sang trồng cây cảnh; nhiều hộ đã chuyển từ các nghề khác sang làm nghề trồng cây cảnh, từ đó mà thu nhập của người dân cũng được nâng lên.
Tuy nhiên, sự gia tăng ồ ạt về diện tích đã làm cho số lượng cây cảnh tăng lên nhanh chóng; trình độ tay nghề người lao động hầu hết vẫn còn hạn chế nên chất lượng cây cảnh không cao. Số lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều, chất lượng sản phẩm không cao dẫn đến n 2 khâu tiêu thụ cây cảnh gặp nhiều khó khăn. Như vậy, về lâu dài, nếu tiếp tục thực trạng đó thì hiệu quả kinh tế của nghề trồng cây cảnh sẽ giảm sút. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả của nghề trồng cây cảnh chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ cây cảnh tại xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình".
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Khóa luận thực hiện nhằm đạt được mục tiêu chung là luận cứ, cơ sở khoa học cho phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình dựa trên đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ cây cảnh và đề xuất được các giải pháp cơ bản nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn xã. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nói chung, sản phẩm cây cảnh nói riêng. - Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở xã Minh Tân giai ðoạn 2011 - 2013 - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn xã Minh Tân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về sản xuất và tiêu thụ cây cảnh 2. Khái niệm về cây cảnh Cây cảnh còn được gọi là cây trang trí. Đó là những cây hoa đẹp hoặc thân, lá, cành, củ quả hấp dẫn hoặc có một dáng vẻ mang ý nghĩa tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ nào đó được trồng lấy hoa cắt hoặc trang trí cả cây để làm đẹp hoặc cải thiện mỹ quan cảnh trí một không gian giới hạn nào đó như một khu nhà ở, sân vườn, nội thất.
Khái niệm về sản xuất Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? 2. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình sản xuất 2.
Vốn sản xuất Vốn sản xuất là tiền mặt và những tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng. Trong quá trình sản xuất, vốn đóng vai trò rất quan trọng, vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh thuận lợi, đúng tiến độ kế hoạch. Vốn sản xuất kinh doanh bao gồm: vốn chủ sở hữu và vốn vay trong đó sẽ có một số khoản vốn vay phải trả chi phí tài chính, do vậy cần phải tập hợp đầy đủ các khoản chi phí này trong quá trình sản xuất kinh doanh và vận dụng các phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. n 4 Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm lượng sản phẩm.
Tuy nhiên việc tăng thêm số lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như lao động, kỹ thuật và biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả. Để sử dụng có hiệu quả yếu tố vốn sản xuất cần lưu ý: tăng vòng quay sử dụng vốn, không để bạn hàng chiếm dụng vốn, tiết kiệm chi phí dành cho vốn vay … 2. Lao động Lao động là yếu tố đặc biệt của quá trình sản xuất, liên quan đến các hoạt động điều hành con người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thể hiện ở số lượng, chất lượng tay nghề lao động, phương thức sử dụng lao động … Mọi hoạt động sản xuất đều do con người quyết định. Chất lượng lao động thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau: Trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc.
Chất lượng lao động quyết định đến kết quả, hiệu quả sản xuất. Đất đai Đất đai là yếu tố không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng đối với ngành công nghiệp, dịch vụ. Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Khoa học công nghệ Khoa học công nghệ là yếu tố quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất, giải phóng sự vất vả, độc hại cho người lao động và thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế. Cần phải nghiên cứu, xem xét và khả năng vận dụng các phát minh mới đối với ngành nghề sản xuất kinh doanh, tính toán hiệu quả sử dụng khoa học n 5 công nghệ dựa trên kết quả đạt được và chi phí sử dụng công nghệ hiện đại, bao gồm chi phí máy móc, thiết bị, chi phí đào tạo, chi phí vận hành sử dụng thường xuyên các phần mềm … 2. Các yếu tố khác Một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh như: Quy mô sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất, quy mô thị trường, các yếu tố tư liệu sản xuất, thị trường đầu ra. cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất, đòi hỏi người sản xuất kinh doanh hàng hóa phải bao quát, dự báo sự biến động và có các giải pháp ứng phó với sự thay đổi bất lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh cũng như cần tận dụng cơ hội kinh doanh có thể nắm bắt được.
Khái niệm về tiêu thụ 2. Tiêu thụ Khái niệm tiêu thụ: Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hàng hoá. Quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, vòng chu chuyển vốn được hình thành. Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất kinh doanh, là một trong các yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của người sản xuất.
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố: + Chủ thể kinh tế tham gia tiêu thụ: là người bán và người mua + Đối tượng: là sản phẩm hàng hoá, tiền tệ + Thị trường tiêu thụ: là nơi gặp gỡ giữa người bán, người mua Sản phẩm hàng hoá tiêu thụ được phải thông qua thị trường. Thị trường là nơi - cả thực và ảo mà người mua và người bán tự tìm đến với nhau để thoả mãn nhu cầu của hai bên. n 6 Các chức năng cơ bản của thị trường: Chức năng thừa nhận, chấp nhận hàng hoá dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết, kích thích sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá; chức năng thông tin. Các quy luật cơ bản của thị trường: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư.
Kênh tiêu thụ - Khái niệm: Kênh tiêu thụ là sự kết hợp qua lại với nhau giữa người sản xuất, người trung gian để thực hiện việc chuyển giao sản phẩm, hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng. - Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm + Người cung ứng: Người sản xuất hoặc công ty thương mại + Người trung gian: Người bán buôn, đại lý, người bán lẻ, người môi giới + Người tiêu dùng: Người cuối cùng trong hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm. - Các loại kênh tiêu thụ sản phẩm + Kênh trực tiếp: Người sản xuất bán sản phẩm hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, không thông qua người trung gian. Người sản xuất đồng thời là người bán sản phẩm hàng hoá.
+ Kênh gián tiếp: Người sản xuất bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua hệ thống tác nhân trung gian. Kênh 1 cấp: Gồm một tác nhân trung gian gần nhất với người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường, tác nhân trung gian này thường là người bán lẻ. Kênh 2 cấp: Gồm hai tác nhân trung gian trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, thành phần trung gian là tác nhân bán buôn, bán lẻ. Kênh 3 cấp: Gồm ba tác nhân trung gian trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, thành phần trung gian thường là các đại lý tiêu thụ, tác nhân bán buôn và tác nhân bán lẻ.
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ n 7 2.