đặt vấn đề phát triển dự án cung cấp rau sạch cho hệ thống nhà hàng Nhật tại Việt Nam và xuất khẩu sang Nhật. Sản xuất rau tại Hà Nội đạt gần 600.000 tấn/năm, tương đương 1. Với mức tiêu dùng khoảng 1 triệu tấn hàng năm, Hà Nội phải nhập thêm một lượng lớn rau từ các tỉnh khác. Nguồn cung bổ sung chủ yếu đến từ 12 các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hổng như: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hòa Bình.
Nhu cầu nhập thêm rau của Hà Nội được dự báo tiếp tục tăng trong thời gian tới do tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn tới thu hẹp đất cho sản xuất nông nghiệp tại thành phố thủ đô[14]. Tình hình nghiên cứu về giống rau cải bắp ở Việt Nam Theo Kurt (1957), Decandolle (1957), Lizgunova (1965) cải bắp có nguồn gốc ở châu Âu-vùng Địa Trung Hải, ven biển Đại Tây Dương và Bờ Biển Bắc. Theo Becker-Dillingen (1956), Lizgunova (1965) cải bắp còn có nguồn gốc từ sự biến đổi của một số loại rau ăn lá. Cải bắp có tên tiếng Anh: Head cabbage; tên khoa học: Brassica oleracea L.capitata thuộc giới (regnum): Plantae, ngành (divisio): Magnoliophita, lớp (class): Magnoliopsida, bộ (ordo): Brassicales, họ thập tự: Crucifereae.
Trong sản xuất nông nghiệp giống là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất, chất lượng nông sản. Sử dụng các loại giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu cao là yêu cầu quan trọng, tuy nhiên mỗi loại giống có một yêu cầu riêng về sinh thái cũng như điều kiện canh tác. Do đó để phát triển một loại cây trồng bất kỳ thì việc lựa chọn giống thích hợp là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất. Cây cải bắp là loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới được di nhập vào nước ta và thường được trồng vào vụ Đông Xuân bắt đầu gieo hạt từ tháng 8 và kết thúc thu hoạch vào tháng 3 năm sau.
Có rất nhiều giống cải bắp đang được trồng ở Việt Nam, trong đó những giống được trồng phổ biến như: giống Green heat, giống Green Nova, giống CB 26, giống Akcross, giống K 60 (King 60), giống F1 TN 278, giống KK cross, giống Newtop, giống Hà Nội (cải bắp Phù Đổng)[5]. 13 * Đặc điểm sinh học và nông học của cây cải bắp: Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn có bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào và súp lơ. Đặc biệt ở cải bắp khả năng phục hồi bộ lá khá cao. Hạt cải bắp nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ 18 – 200C.
Cây phát triển thuận lợi nhất ở 15 – 180C. Nguồn gốc phát sinh của cải bắp từ vùng Địa Trung Hải, cải bắp thuộc nhóm cây ưa ánh sáng ngày dài nhưng cường độ chiếu sáng yếu. Do vậy, trong điều kiện vụ đông xuân ở nước ta, cây cải bắp thường rút ngắn thời gian sinh trưởng so với vùng nguyên sản. Độ ẩm thích hợp với cải bắp là từ 75 - 85%, ẩm độ không khí khoảng 80 - 90%.
Đất quá ẩm (trên 90%) kéo dài 3 - 5 ngày sẽ làm rễ cây nhiễm độc vì làm việc trong điều kiện yếm khí. Cải bắp ưa đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, có độ pH= 5,6 - 6,0. Do có lượng sinh khối lớn nên cải bắp yêu cầu dinh dưỡng cao. Các nhà chuyên môn đã tính toán, để có năng suất 80 tấn/ha, cải bắp đã lấy đi của đất 214 kg đạm, 79 kg lân, 200 kg kali, tức là tương đương với 610 kg đạm urê, 400 kg supe lân, 500 kg clorua kali.
Vì vậy, phải đảm bảo lượng phân bón sao cho cây có trạng thái tốt, chống chịu sâu bệnh và cho năng suất cao. Các yêu cầu này cần phải được tuân thủ thông qua biện pháp kỹ thuật. * Một số nghiên cứu về giống cải bắp trồng ở Việt Nam: Dẫn theo luận văn của Sa Nhật Tâm (2013) các giống cải bắp đang trồng ở nước ta hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ một số nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc Liên Xô cũ, diện tích cải bắp được phát triển trên địa bàn cả nước, đối với vụ Đông Xuân sớm thì chủ yếu tại các vùng như Đà Lạt – Lâm Đồng, Mộc Châu – Sơn La, Sa Pa – Lao Cai. Các giống phổ biến hiện nay gồm: 14 + Giống Green heat (thời gian sinh trưởng 115 ngày), Caakacr1, Caakacr2 (106 ngày).
+ Giống Green Nova là giống lai F1 có thời gian sinh trưởng từ 90 - 95 ngày, có thể lưu gốc tới 110 ngày vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; khả năng chống chịu lạnh rất tốt; tỷ lệ cây bị bệnh sưng cổ rễ thấp, tỷ lệ cây phân ly thấp, dưới 1%; năng suất thu hoạch cao (60 - 65 tấn/ha), chất lượng tốt. Sau khi thu hoạch 3 - 4 ngày bắp Green Nova vẫn giữ được màu xanh; độ chặt bắp cao nên trong quá trình vận chuyển tiêu thụ ít bị dập, bầm lá ngoài. + Giống cải bắp CB 26 bắt đầu được chọn tạo từ năm 1981, được công nhận đưa vào sản xuất năm 1990. Những đặc tính chủ yếu: đường kính tán lá 40 - 50 cm, dạng bắp bánh dày cao 13 - 15 cm, đường kính bắp 15 -17 cm.
Là giống cải bắp sớm, ngắn ngày, thời gian từ trồng đến thu hoạch 75 - 90 ngày, năng suất trung bình 30 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 35 tấn/ha, tỷ lệ cuốn bắp 92 - 95%. Khối lượng trung bình/ bắp từ 1,2 - 1,5kg, cuốn khá chặt, phẩm chất tốt, giòn, kích thước bắp vừa phải, thuận tiện cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, cây chịu được nhiệt độ cao vào lúc cuốn, chống bệnh héo rũ và thối nhũn tốt. + Giống cải bắp Akcross là giống nhập nội từ Nhật Bản, đặc tính chủ yếu: Lá và gân lá xanh, lá dày, bắp to, mặt bắp hơi dẹt, khối lượng bắp từ 1,7 - 1,8kg, tỷ lệ cuốn bắp đạt 96 - 97%, bắp cuốn chặt hình dạng đẹp, đường kính tán cây từ 50 - 55cm, có thời gian sinh trưởng trung bình, thời gian từ trồng đến thu hoạch từ 80 - 90 ngày, năng suất đạt 50 - 55 tấn/ha, khả năng chịu nhiệt và kháng bệnh tốt. + Giống cải bắp K60 (King 60) được nhập nội từ Nhật Bản, được Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương tiến hành trồng khảo nghiệm từ năm 1998 và có triển vọng tốt, đặc tính chủ yếu: Lá xanh thẫm, to, 15 dày, gân lá trắng.
Bắp to, tròn, đường kính tán cây từ 50 - 60cm. Tỷ lệ cuốn bắp cao, đạt 96 - 98%, khối lượng 1 bắp từ 1,7 - 2,0kg, thời gian sinh trưởng dài hơn giống Akcross từ 5 - 10 ngày, thời gian từ trồng đến thu hoạch khoảng 80 - 95 ngày. Là giống có tiềm năng năng suất cao, năng suất trung bình đạt 50 - 60 tấn/ ha, phẩm chất ngon, ăn giòn, ngọt. Dạng hình cây đẹp, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh cũng như sâu bệnh tốt, là giống có khả năng chịu thâm canh cao.
+ KK cross: Là giống lai F1 của Nhật được trồng phổ biến ở vùng đồng bằng các tỉnh phía Nam từ lâu, thời gian thu hoạch 80 - 90 ngày, năng suất bình quân 30 - 40 tấn/ha. + Newtop: Là giống lai F1, thời gian từ cấy đến thu hoạch 75 - 85 ngày, năng suất bình quân 30 - 40 tấn/ha[8]. Tình hình và kết quả ứng dụng kỹ thuật tiến bộ liên quan đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây rau cải bắp * Những nghiên cứu về sâu tơ (Plutella xylostella) Sâu tơ (Plutella xylostella L) là một trong những loài sâu hại rau họ thập tự được nhiều nhà khoa học ở các quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu, do tính chất gây hại đối với sản xuất và tính kháng thuốc của nó. Theo Lê Trịnh Thịnh (1996) cho biết sâu tơ là loài sâu hại rất nguy hiểm trên rau họ thập tự, sâu thuộc họ ngài đêm roctuidae, bộ cánh vẩy lepidoptera.
Sâu tơ hại tất cả các loại rau trong họ thập tự có giá trị kinh tế như bắp cải, su hào, suplơ,. Chúng được coi là đối tượng sâu hại quan trọng ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong vùng Nam và Đông Nam Châu Á như Thái Lan, Malayxia, Indonexia, Philippin, Đài Loan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2001) các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu tơ đã cho biết: Tuỳ thuộc vào điều kiện môi 16 trường ở từng nước khác nhau mà vòng đời sâu tơ cũng khác nhau như: ở Canada vòng đời của sâu khoảng 14 - 21 ngày; ở Hongkong 22 - 37 ngày; ở Malaysia 10,8 - 27,0 ngày. Theo tác giả Koshihara (1985) thì ở nhiệt độ khoảng 200C thì vòng đời của sâu tơ là 23 ngày nhưng khi nhiệt độ là 250C thì vòng đời rút ngắn lại 16 ngày.
Theo Ong và Soon, (1990) cho rằng sâu non phân bố trên cây chủ yếu ở mặt dưới lá non và lá bánh tẻ để gây hại, đến cuối tuổi 4 thì di chuyển xuống mặt dưới của các lá già và kẽ lá để hoá nhộng. Như vậy việc tỉa bỏ lá già sẽ góp phần hạn chế số lượng sâu chuyển tiếp sang lứa sau trên ruộng rau. * Những nghiên cứu về Sâu xanh bướm trắng (Piesis sapae) Sâu xanh bướm trắng thuộc họ Pieridae, bộ cánh vẩy Lepidoptera cũng gây hại mạnh đến hầu hết khắp các nước trên thế giới, có phạm vi ký chủ rộng hơn sâu tơ gồm 9 họ và 35 loài thực vật khác nhau như: họ thập tự, họ cúc, họ bách hợp v. Tuy nhiên chúng phá hoại nặng trên họ rau thập tự.
Các nghiên cứu của Liu.A,(1995) cho biết trong suốt thời kỳ sâu non, sâu xanh bướm trắng ăn được từ 14,5 – 50cm2 lá bắp cải, trong đó riêng tuổi 4 và tuổi 5 ăn từ 11,4 - 44cm2 lá, gấp 3,7 - 7,3 lần so với thức ăn tuổi 1 và tuổi 3. Các kết quả nghiên cứu về sâu xanh bướm trắng của tác giả Lê Văn Trịnh năm1998 cho biết, vòng đời của sâu xanh bướm trắng từ 19 - 30 ngày, tuỳ điều kiện nhiệt độ, ẩm độ khác nhau. Số trứng một bướm cái đẻ 120,5 - 141,6 và tỷ lệ nở của trứng là 90,2 - 95,5%. Mỗi năm có 15 lứa sâu phát sinh với khoảng cách giữa 2 lứa là 20 - 26 ngày.
Theo Nguyễn Thúy Hà (2010) mật độ sâu phát sinh trên đồng ruộng có liên quan chặt chẽ với nhiệt độ, ẩm độ không khí và lượng mưa.