Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến nông nghiệp - Nông nghiệp là “quá trình sản xuất lương thực - thực phẩm, tơ, sợi, nguyên liệu,. cho các ngành công nghiệp thuộc dự án, thủ công mĩ nghệ, dược - mĩ phẩm và các sản phẩm khác có thể được bởi trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, mục đích tiêu dùng và các mục đích khác tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng sản xuất của cộng đồng người sử dụng nông nghiệp”. [18] Sang thế kỉ XXI, nông nghiệp được tiếp cận và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh mới.
Nông nghiệp được coi là một hoạt động kinh tế, cơ sở cho sự phát triển công nghiệp và công nghiệp hóa, đô thị hóa (cung cấp lương thực thực phẩm, nguyên liệu, đất, lao động, thị trường, vốn cho công nghiệp, .), đảm bảo an ninh lương thực; là sinh kế giữ vai trò quan trọng trong giảm nghèo, là nơi nuôi dưỡng và cung cấp các nguồn tài nguyên, dịch vụ môi trường,. [16] - Phát triển nông nghiệp: “Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề KT - XH ở mỗi quốc gia”. Rõ ràng, nội hàm của phát triển kinh tế gồm ba khía cạnh đó là sự gia tăng GDP, GDP/người (biến đổi về lượng của nền kinh tế); sự biến đổi phù hợp với xu thế của cơ cấu kinh tế (biến đổi về chất của nền kinh tế); sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội [8]. Thông qua khái niệm và nội hàm của phát triển kinh tế, có thể hiểu phát triển nông nghiệp theo nghĩa rộng là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của khu vực nông lâm và thủy sản, bao gồm cả sự tăng trưởng và hoàn chỉnh về quy mô GDP, GTSX, thể chế nông nghiệp, chất lượng nông sản và sự nâng cao hiệu quả KT - XH trong quá trình phát triển.
Còn theo nghĩa hẹp, phát triển nông nghiệp là quá trình lớn lên, tăng tiến về GTSX của các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp (bao gồm cả sự chuyển hóa về chất và lượng), đảm bảo tốt hơn các vấn đề kinh tế và an sinh xã hội. - Cơ cấu nông nghiệp là “tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong sản xuất nông nghiệp; có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ nhất định về mặt định lượng và liên quan về mặt chất. Các bộ phận kinh tế tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT - XH nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao [6]. 9 Cơ cấu nông nghiệp gồm 03 bộ phận chủ yếu, đó là cơ cấu nông nghiệp theo ngành, cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ và cơ cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế.
Trong đó, cơ cấu nông nghiệp theo ngành là tổng hợp các phân ngành của nông nghiệp được sắp xếp theo một tương quan tỉ lệ nhất định. Cơ cấu ngành thể hiện số lượng, tỉ trọng của các ngành tạo nên nền nông nghiệp. Nó phản ánh trình độ phân công lao động xã hội trong nông nghiệp nói chung và trình độ phát triển của sức sản xuất nói riêng. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm nông, lâm, thủy sản còn theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ ra đời chủ yếu từ việc bố trí sản xuất nông nghiệp theo không gian địa lí. Đây là tương quan tỉ lệ giữa các đối tượng nông nghiệp trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng gắn với nhu cầu thị trường ở lãnh thổ cụ thể nhằm sử dụng hợp lý nhất các tiềm năng, lợi thế về tự nhiên, KT - XH. [28] Cơ cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế là tương quan theo tỉ lệ giữa các thành phần kinh tế tham gia vào các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp. Việc phát triển nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào sức sản xuất, song cũng yêu cầu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sức sản xuất với quan hệ sản xuất, trong đó có chế độ sở hữu.
Đây là kết quả của tổ chức nền nông nghiệp theo hình thức sở hữu, hay nói cách khác chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Các loại hình kinh tế kết hợp với nhau tạo nên cơ cấu thành phần kinh tế, bao gồm kinh tế Nhà nước (trung ương, địa phương); kinh tế ngoài nhà nước (tư nhân, tập thể, cá thể, hỗn hợp) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Vai trò của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp. Tựu chung lại, toàn bộ nền kinh tế có thể chia thành 3 khu vực, trong đó khu vực I bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp.
Từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và bảo đảm sự sinh tồn của loài người nói riêng. Ănghen đã khẳng định: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ thế giới cổ đại và hiện nay nông nghiệp lại càng có ý nghĩa như thế. Vai trò to lớn của nông nghiệp được thể hiện ở các điểm sau: - Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con người. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người.
Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình là lương thực. Cách đây khoảng một vạn năm, con người đã biết thuần dưỡng động vật hoang, trồng các loại cây rừng và biến chúng thành vật nuôi, cây trồng. Sự ổn định 10 bước đầu của dân số thế giới là từ khi loài người biết trồng trọt và tạo được cơ sở lương thực, thực phẩm. Với sự phát triển của khoa học - kĩ thuật, nông nghiệp này càng được mở rộng, các giống cây trồng, vật nuôi ngày càng đa dạng, phong phú.
- Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho dân cư. Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến. Đối với các nước đang phát triển, nguyên liệu từ nông sản là bộ phận đầu vào chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Một số loại nông sản, nếu tính trên đơn vị diện tích, có thể tạo ra số việc làm sau nông nghiệp nhiều hơn hoặc tương đương với số việc làm của chính khâu sản xuất ra nông sản ấy.
Hơn nữa, thông qua công nghiệp chế biến, giá trị nông sản được tăng lên và đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. - Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rông lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Đối với các nước đang phát triển, nông nghiệp và nông thôn chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và cơ cấu ngành nghề của dân cư. Đời sống dân cư nông thôn càng được nâng cao, cơ cấu kinh tế nông thôn càng đa dạng và đạt tốc độ tăng trưởng cao thì nông nghiệp và nông thôn sẽ trở thành thị trường tiêu thụ rộng lớn và ổn định của nền kinh tế quốc dân.
- Nông nghiệp là ngành cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển. Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu, tỉ lệ nông sản xuất khẩu - nhất là dưới dạng thô có xu hướng giảm đi, nhưng về giá trị tuyệt đối thì vẫn tăng lên. Vì vậy, trong thời kì đầu của quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước, nông nghiệp là ngành xuất khẩu chủ yếu, tạo ra tích lũy để tái sản xuất và phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp và các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội. Đây là xu hướng có tính qui luật trong phân công lại lao động xã hội. Tuy nhiên, khả năng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác còn tùy thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và cả việc nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn. - Nông nghiệp trực tiếp tham gia vào việc giữ gìn cân bằng sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Quá trình phát triển nông nghiệp gắn liền với việc 11 sử dụng thường xuyên đất đai, nguồn nước, các loại hóa chất., với việc trồng và bảo vệ rừng, luân canh cây trồng, phủ xanh đất trống, đồi trọc. Tất cả điều đó đều có ảnh hưởng lớn đến môi trường. Chính việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái còn là điều kiện để sản xuất nông nghiệp có thể phát triển và đạt hiệu quả cao. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, với những đặc điểm riêng biệt.
Nghiên cứu các đặc điểm của nó có vai trò quan trọng trong việc xác định phương hướng phát triển, hoạch định chính sách và tiến hành các biện pháp quản lí có hiệu quả. - Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Trong nông nghiệp, đất đai trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Thường thì không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai.
Qui mô sản xuất, trình độ sản xuất, mức độ thâm canh, phương hướng sản xuất và cả việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp lệ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng đất đai. Trong quá trình sử dụng, đất đai ít bị hao mòn, bị hỏng đi như các tư liệu sản xuất khác. - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, cơ thể sống.