Đặt vấn đề Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao chăm lo tới sức khỏe nhiều hơn. Con người chú trọng tới thức ăn và dinh dưỡng hằng ngày, trong đó không thể thiếu các loại rau quả tươi. Rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy lượng protid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, cung cấp sắt, các chất pectin và axit hữu cơ.
Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza. Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam hiện nay nhu cầu về số lượng và chất lượng rất đáng chú ý, đặc biệt là rau quả đảm bảo an toàn vệ sinh. Do diện tích đất nông nghiệp trồng rau ngày càng thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng càng tăng cùng với nhận thức chưa đúng đắn của người sản xuất rau trong sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại phân bón , đặc biệt là phân đạm giúp cho rau xanh tốt sử dụng thừa thải gây tồn dư nhiều trong rau quả làm giảm giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng sức khỏe con người. Thành phố Thái Nguyên là một trung tâm kinh tế, chính trị ở khu vực phía Bắc Việt nam.
Với mật độ dân số đông (1.367 người/km2), tổng diện tích tự nhiên là 15.169ha, trong đó đất nông nghiệp là 5.938ha, và dân số hiện nay là 1.000 người(2010), riêng thành phố Thái Nguyên là 330. Vì vậy thành phố Thái Nguyên là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, trong đó có rau xanh. Đồng Bẩm là một xã ngoại thành của thành phố Thái Nguyên, ngăn cách phần trung tâm thành phố bởi sông Cầu, diện tích: 402,37 ha diện tích tự nhiên và dân số 5656 người ( năm 2013), đặc trưng của vùng là sản xuất và thâm canh rau. Tuy nhiên, do tập quán canh tác còn thấp cùng với việc sử dụng phân bón hóa học và các loại thuốc kích thích sinh trưởng một cách quá mức làm ảnh hưởng đến chất lượng rau quả và độ an toàn cho người dân, và trong đó thì dư lượng Nitrat nguy hiểm cũng rất khó được kiểm soát.
n 2 Vì vậy từ thực tế trên và sự cần thiết phải kiểm tra rau ngay chính tại nơi trồng rau trước khi đưa ra thị thường tiêu thụ, được sự nhất trí của BGH nhà trường, BCN khoa Môi Trường , Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên , dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Chí Hiểu , em tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu xác định hàm lượng Nitrate trong rau tại vùng sản xuất rau xã Đồng Bẩm – thành phố Thái Nguyên” 1. Mục đích của đề tài Xác định hàm lượng Nitrate trong một số loại rau thương phẩm sản xuất tại vùng sản xuất rau xã Đồng Bẩm nhằm xác định mức độ an toàn cũng như làm cơ sở để khuyến cáo với người tiêu dùng, người sản xuất và các cơ quan chức năng nhằm quản lý, sản xuất và tiêu dùng các loại rau có dư lượng Nitrate an toàn với sức khỏe. Yêu cầu của đề tài - Thực trạng sản xuất và sử dụng phân bón trong sản xuất rau tại xã Đồng Bẩm - Xác định hàm lượng Nitrate trong một số loại rau thương phẩm chính trên cánh đồng rau xã Đồng Bẩm, thành phố Thái nguyên.
- So sánh hàm lượng Nitrate của một số loại rau thương phẩm trên cánh đồng rau xã Đồng Bẩm với TCVN và rau VIETGAP - Đề xuất một số giải pháp cho phát triển trồng rau an toàn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Đề tài giúp em có cơ hội để áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế - Nâng cao chuyên môn có thêm kinh nghiệm cho công việc sau này khi ra trường công tác 1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Xác định được hàm lượng Nitrate trong một số loại rau thương phẩm - Kết quả của đề tài làm căn cứ, nền tảng để cho các nghiên cứu tiếp theo và đề xuất các giải pháp phù hợp.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu sau khi hoàn thành sẽ cung cấp số liệu để: n 3 Phổ biến, khuyến cáo người dân và làm tăng sản xuất và tiêu dùng rau an toàn, góp phần xây dựng thương hiệu, mở rộng mô hình trồng rau an toàn. Làm cơ sở cho cơ quan chức năng quan tâm đến các dự án phát triển sản xuất rau sạch cho thành phố trong tương lai Giúp người trồng rau thay đổi kỹ thuật trồng rau, góp phần bảo vệ môi trường. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở pháp lý Đề tài căn cứ vào các văn bản pháp luật liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm sau: Luật An Toàn Thực Phẩm ngày 17/06/2010 .Số 55/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết hiện hành một số điều của luật An toàn thực phẩm Nghị định số 178/2013/NĐ-CP có hiệu lực ngày 31/12/2013 của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm TCVN 9016 :2011 Rau tươi–Phương pháp lấy mẫu trên ruộng sản xuất. Quyết định số 687/1998/QĐ-BYT ngày 04/04/1998 của Bộ y tế về việc ban hành danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực , thực phẩm Quyết định số 99 /2008/QĐ-BNN ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2. Cơ sở lý luận Rau là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người nó cung cấp phần lớn các khoáng chất, vitamin và các chất dinh dưỡng khác cho con người. Theo nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học thì hàng ngày chúng ta cần 2.500 calo cho năng lượng để hoạt động sống và làm việc.
Để có đủ số năng lượng đó thì mỗi ngày cần bổ sung thêm khoảng 300g rau mỗi ngày (Sylvia S. Trong khẩu phần ăn hằng ngày rau cung cấp khoảng 95 – 99% nguồn Vitamin A, 60- 70% nguồn Vitamin B và gần 100% nguồn Vitamin C. Các loại Vitamin có trong rau như : VitaminA, B1, B2, C, E, PP… Có tác dụng quan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể. Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh thường xuất hiện các triệu chứng như: da khô, mắt mờ , quáng gà,…do thiếu VitaminA, chảy máu chân răng, tay chân mệt mỏi do thiếu n 5 Vitamin C, lở loét miệng lưỡi, viêm ngứa do thiếu Vitamin B2.
Thiếu Vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc suy giảm, bệnh tật dễ phát sinh, khi mắc bệnh chữa lâu lành. Trong hoạt động hằng ngày con người một lượng Vitamin nhất định, cùng các chất khoáng có trong rau chủ yếu như K, Ca, Mg, Fe, vi lượng…là những chất cần thiết để cáu tạo nên máu và xương. Một số rau còn được sử dụng như những cây dược liệu quý như: Tỏi ta, Gừng, Nghệ, Tía Tô, …được coi là dược liệu tốt cho hệ tiêu hóa của người và động vật( Tạ Thu Cúc,1997)[ 7 ]. Lượng gluxit và protein trong rau bổ sung cho cơ thể một phần năng lượng tuy không nhiều nhưng đáng chú ý là protein.
Trong rau chứa nhiều lizin(5 – 7 %) và mỗi loại rau có tỷ lệ axit amin khác nhau nên khi ăn nhiều loại rau có tác dụng lớn cho việc sử dụng protein của rau. Chất xơ trong rau giúp cho hệ tiêu hóa được điều hòa, chống táo bón, giữ được cảm giác no (Trần Khắc Thi & cs, 1994) [24]. Về Giá trị kinh tế : Các loại cây rau màu với thời gian sinh trưởng ngắn, có thể sản xuất nhiều vụ trong năm, luân canh, xen canh dễ dàng phù hợp với nhiều thời tiết nên được coi là cây trồng chủ lực trong chuyển dịch cơ cấu xóa đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Rau là nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm như công nghiệp đồ hộp; công nghiệp bánh kẹo( bí xanh , cà rốt…); công nghệ chế biến thuốc dược liệu( tỏi , hành, rau gia vị….); làm hương liệu như hạt mùi. Ngoài ra còn góp phần phát triển ngành chăn nuôi( Bùi Bảo Hoàn & cs, 2000) [14].
Khái niệm về rau an toàn: “ Những sản phẩm rau tươi(bao gồm các loại rau ăn lá, củ, thân, hoa, quả) có chất lượng như đặc tính của chúng, mức độ nhiễm các chất độc hại và các vi sinh vật gây hại không vượt quá chỉ tiêu cho phép, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “ Rau an toàn” (Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Chất lượng của rau an toàn: Rau an toàn phải đạt các yếu tố sau Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầu từng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫ tạp chất, sâu bệnh và bao gói thích hợp(tùy loại) (FAO). n 6 Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu cho nội chất được quy định cho rau tươi gồm: dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, hàm lượng nitrat (NO3 -), hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu như Cd, Pb, Cu, ZN….Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh( E.) và ký sinh trùng đường ruột. Cơ sở thực tiễn của đề tài Xã Đồng Bẩm là một xã ven thành phố Thái Nguyên, đây là một trong những xã có diện tích trồng rau khá lớn và cũng là nguồn cung cấp rau chính cho thành phố. Nhưng đến nay địa bàn thành phố chưa có vùng nào sản xuất rau được kiểm tra và đánh giá nơi sản xuất RAT.
Như ta đã biết Nitrat là một trong 4 chỉ tiêu quan trọng của RAT nên việc đánh giá hàm lượng Nitrat trong rau chánh nơi sản xuất là rất cần thiết, tác động trực tiếp đến người trồng rau. Họ muốn tồn tại được và giữ được thương hiệu cho mình thì buộc họ phải thay đổi kĩ thuật canh tác để đáp ứng được nhu cầu thị trường. Kết quả của việc nghiên cứu xác định hàm lượng Nitrate trong rau tạo ra cơ sở để các cơ quan chức năng quan tâm đến vấn đề sản xuất RAT để bảo vệ sức khỏe cho người dân, đồng thời góp phần BVMT. Tổng quan về tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới Trên thế giới rau là loại cây được trồng từ lâu đời. Người Hy Lạp. Ai Cập cổ đại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực phẩm. Từ năm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới tăng bình quân mỗi năm trên 600,000ha sản lượng rau cũng tăng dần qua các năm.