Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam Rau xanh nằm trong nhóm những thực phẩm giàu dinh dưỡng, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.Rau chứa hàng trăm các chất dinh dưỡng khác nhau, trong đó có nhiều dưỡng chất thiết yếu cho hoạt động bình thường của cơ thể. Ăn nhiều rau quả sẽ giúp hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Ngoài ra chúng còn bảo vệ khỏi các căn bệnh ung thư, đường ruột, chống lại bệnh đục thuỷ tinh thế, và suy giảm thị lực.
Cây Rau là một trong những loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân ở nhiều vùng trên cả nước, một số loại Rau có giá trị cao như Dưa hấu, cà chua…là loại cây trồng làm giàu cho người dân ở nhiều nơi với thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy rau được coi là loại cây trồng chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới Hiện này, cùng với sự gia tăng dân số, nhu câu cung cấp lương thực thực phẩm cho loài người cũng ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên cùng với việc phát triển kinh tế cũng đã kéo théo hàng loạt những vấn đề môi trường.
Do sự phát triển mạnh mẽ của đô thị và công nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phân hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Trong những năm gần đây các tổ chức quốc tế như tổ chức Nông lương (FAO [10]), tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổ chức khác về vấn đề môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụng hóa chất nhân tạo vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (Nguyễn Xuân Thành, 1997 [35]). Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính rằng mỗi năm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật. Trong thập kỷ 90 của thể kỷ XX ở Châu phi hàng năm có khoảng 11 triệu trường hợp bị ngộ độc.
Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm, 15% người bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời. Chính vì vậy, từ quy trình công n 6 nghệ sản xuất rau truyền thống, các nước này đã cải tiến ứng dụng công nghệ sản xuất rau an toàn ngày càng phổ biến rộng rãi trên thế giới. Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ cao. Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên quen thuộc.
Ở Đức có hàng ngàn của hàng bán rau “xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái” để phục vụ nhu cầu rau quả cho người tiêu dùng. Vì vậy rau an toàn là nhu cầu không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của các nước này. Những năm gần đây một số nước như Singapore, Thái Lan cũng đã phát triển mạnh công nghệ sản xuất rau an toàn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Diện tích đất trồng rau trên thế giới hiện đang tăng nhanh, cao hơn tốc độ tăng diện tích đất trồng các giống cây khác.
Nguyên nhân là do người nông dân chuyển một phần lớn diện tích trồng ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau. Điển hình như ở Trung Quốc, diện tích đất trồng rau tăng rất ấn tượng, ngang với tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này, đạt mức trung bình 6%/năm trong suốt 20 năm qua. Trong khi đó, các nước đang phát triển ở châu Á và một số quốc gia phát triển khác có tốc độ tăng chậm hơn, đạt mức 3%/năm. Tính chung trên toàn thế giới, diện tích đất trồng rau hiện đang tăng 2,8%/năm Theo số liệu thống kê của FAO (2001 [10]), sản lượng rau xanh trên thế giới liên tục tăng nhanh trong những thập niên vừa qua, từ 375 triệu tấn rau năm 1980 lên 441 triệu tấn năm 1990 và 602 triệu tấn năm 2000.
Lượng tiêu thụ bình quần năm 1990 là 65 kg/người và năm 2000 là 78 kg/người. Riêng Châu Á, sản lượng hàng năm đạt khoảng 400 triệu tấn với mức tăng trưởng 3% mỗi năm. Trong số các nước đang phát triển thì Trung Quốc có sản lượng rau cao nhất với 70 triệu tấn/năm, Ấn Độ đứng thức hai với sản lượng rau sản xuất hàng năm là 65 triệu tấn. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ rau sẽ tăng mạnh, đặc biệt là các loại rau ăn lá.
Theo Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), nhu cầu tiêu thụ rau diếp và các loại rau xanh khác sẽ tăng khoảng 22-23%, trong khi tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác sẽ chỉ tăng khoảng 7-8%. Giá rau tươi vẫn tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ. Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/năm trong đó các nước EU như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…là những nước nhập khẩu rau chủ yếu. n 7 Nhu cầu về quả nhiệt đới sẽ tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng 8%.
Nhập khẩu toàn cầu đạt 4,3 triệu tấn năm 2010, trong đó 87% (3,8 triệu tấn) được nhập khẩu bởi các nước phát triển. Hai khu vực EU và Hoa Kỳ chiếm 70% tổng nhập khẩu quả nhiệt đới toàn cầu. EU vẫn là khu vực nhập khẩu quả nhiệt đới lớn nhất thế giới với Pháp là thị trường tiêu thụ chính và Hà Lan là thị trường trung chuyển lớn nhất châu Âu. Ngoài Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản, Canada và Hồng Kông cũng là những thị trường nhập khẩu quả nhiệt đới lớn.
Đối với các loại quả có múi, tốc độ tăng sản lượng sẽ không cao do khâu chế biến không thuận lợi. Sao Paolo của Brazil và Florida của Mỹ là những khu vực cung cấp quả có múi lớn nhất thế giới. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam Ở Việt Nam rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến và ngày càng gia tăng. Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành các vùng chuyên canh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113.000 ha tương ưng khoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất thích hợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới.
Tuy nhiên tình hình sản xuất rau ở Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, mùa vụ và các vùng khác nhau. Năng suất rau cũng rất biến động theo các vùng địa lý, ví dụ như ở Đà Lạt – Lâm Đồng năng suất đạt 20.500kg/ha, trong khi đó, ở Quảng Trị năng suất chỉ là 4.500kg/ha vào năm 1993. Diện tích trồng rau tập trung ở 2 vùng chính là vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng đồng bằng Nam Bộ. Trong các loại rau thì rau muống được trồng phổ biến nhất trên cả nước, tiếp đến là bắp cải được trồng nhiều ở miền Bắc.
Đối với nông dân, rau là loại cây trồng cho thu nhập quan trọng cho nông hộ (Hồ Thanh Sơn và cs, 2005 [30]) Một vấn đề quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ rau xanh ở nước ta hiện nay là không chỉ nhằm đáp ứng về số lượng ngày càng tăng mà cần phải đảm bảo về chất lượng rau cung cấp trên thị trường. Nhưng sản xuất rau của Việt Nam chủ yếu vẫn theo quy mô hộ gia đình khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều. Bên cạnh n 8 đó sản xuất phụ thuộc nhiều vào phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và môi trường sản xuất bị ảnh hưởng khá lớn bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt. Việc chạy theo lợi nhuận, áp dụng thiếu chọn lọc các tiến bộ khoa học kỹ thuật cùng với sự thiếu hiểu biết của người trồng rau đã làm cho sản phẩm rau xanh bị ô nhiễm NO3-, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và hóa chất bảo vệ thực vật.
Vấn đề ô nhiễm rau xảy ra ở hầu khắp các vùng trồng rau trong cả nước (Nguyễn Văn Hải và cs 2000 [13]), (Chiêng Hông, 2003 [19]). Hiện nay những vụ ngộ độc thực phẩm do ăn rau không sạch đã xuất hiện ngày càng nhiều và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Để đảm bảo chất lượng rau cung cấp cho người tiêu dùng, các cơ sở sản xuất đã chú ý đến tổ chức sản xuất rau an toàn. Sản xuất rau an toàn đã được triển khai nghiên cứu và phát triển từ năm 1995 do trường trình rau quốc tế với sự tham gia của 80 nhà khoa học nghiên cứu về rau sạch đã làm việc với 11 viện nghiên cứu, các Trường đại học và các Trung tâm rau sạch trong cả nước.
Chương trình này phối hợp nghiên cứu đã đưa vào sản xuất 12 giống rau đã được công nhận có hiệu quả về năng suất cũng như chất lượng sản phẩm (Nguyễn Xuân Thành, 1997 [35]). Các mô hình sản xuất rau sạch được triển khai ở một số thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu đã thu được kết quả tốt, và có hai loại hình phát triển rau an toàn chủ yếu: + Thứ nhất là mô hình rau sạch trên diện tích hẹp đầu tư cao về cơ sở vật chất kỹ thuật. Đó là mô hình trồng rau trong nhà kính, nhà lưới, trồng rau thuỷ canh, trồng rau trên giá thể .Ưu điểm của những mô hình này là có thể trồng rau trái vụ, cho năng suất cao, tránh được những điều kiện thời tiết bất lợi, phù hợp chủ yếu với rau ăn lá và rau cao cấp. Nhược điểm lớn nhất của việc trồng rau theo mô hình này là đầu tư khá cao (đầu tư cho 1ha nhà lưới từ 250 - 300 triệu đồng, cho nhà kính hàng tỷ đồng) nên giá thành cao, qui mô thường nhỏ do vậy ít người tham gia sản xuất, lượng rau sạch không đáp ứng được đại bộ phận người tiêu dùng có thu nhập thấp nên rất khó mở rộng.
+ Thứ hai là mô hình phát triển rau an toàn trên diện rộng ngay tại đồng ruộng, bằng cách đầu tư chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.