phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng II: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Chƣơng III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về phát triển Đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về sự phát triển. Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1999 đã đƣa ra khái niệm phát triển với ý nghĩa rộng lớn bao gồm cả thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con ngƣời, đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con ngƣời, trong các mối quan hệ với Nhà nƣớc, cộng đồng…”.
Một quan niệm khác cho rằng: “Phát triển là việc tạo điều kiện cho con ngƣời sinh sống ở bất cứ nơi nào đều đƣợc thoả mãn nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ tốt, đảm bảo chất lƣợng cuộc sống, có trình độ học vấn cao, đƣợc hƣởng những thành tựu về văn hoá và tinh thần, có đủ điều kiện cho một môi trƣờng sống lành mạnh, đƣợc hƣởng các quyền cơ bản của con ngƣời và đƣợc đảm bảo an ninh, an toàn và không có bạo lực”. Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về phát triển, nhƣng các ý kiến đều thống nhất cho rằng, phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con ngƣời. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và quyền tự do công dân của mọi ngƣời dân. Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế, các quốc gia đã đƣa ra các quan điểm phát triển bền vững, Uỷ ban quốc tế về phát triển và môi trƣờng (1987) đã định nghĩa: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hƣớng đầu tƣ hƣớng phát triển của công nghệ, kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của con ngƣời”.
Hội nghị thƣợng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de Janneiro đƣa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là “Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tƣơng lai”. Nhƣ vậy, phát triển bền vững lồng ghép quá trình phát triển kinh tế, hoạt động xã hội với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và làm giàu môi trƣờng sinh thái. Nó làm thoả mãn nhu cầu phát triển hiện tại mà không làm phƣơng hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong tƣơng lai. Hội nghị thƣợng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững năm 2002 đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: Tăng trƣởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trƣờng”.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trƣởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cải thiện và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng sống. Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát triển bền vững trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc đến năm 2010: “Phát triển nhanh hiệu quả bền vững. Tăng trƣởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng, gắn sự phát triển kinh tế với giữ ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng”. Khái niệm về nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học - kỹ thuật. Một mặt, cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo những quy luật sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 học nhất định, trong đó con ngƣời không thể ngăn cản quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn những quy luật để có những giải pháp thích hợp với chúng. Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho ngƣời sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng.
Khái niệm về sản xuất Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Trong sản xuất con ngƣời đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lƣơng thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khắc phục vụ cuộc sống. Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất chủ yếu đóng vai trò quyết định. Khái niệm về hàng hoá Kinh tế hàng hoá là một điều kiện tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thành phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, trao đổi trên thị trƣờng.
Sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan, nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ nhất định làm xuất hiện những tiền đề của kinh tế hàng hoá. Trong lịch sử những quan hệ hiện vật tự nhiên và quan hệ hàng hoá tồn tại đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng hoá gắn liền với xuất hiện của những tiền đề chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá. Kinh tế thị trƣờng chính là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, khi kinh tế hàng hoá ra đời, cũng có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trƣờng đƣợc phát triển và mở rộng.
Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà còn bao gồm các yếu tố đầu vào của sản xuất. Mọi quan hệ kinh tế trong xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 hội đều đƣợc tiền tệ hoá và thông qua thị trƣờng. Hàng hoá là vật phẩm do lao động của con ngƣời tạo nên để trao đổi, sản xuất hàng hoá là sản xuất tạo ra sản phẩm để bán, để trao đổi phục vụ yêu cầu sản xuất và tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời và có thể dùng để trao đổi với các hàng hoá khác.
Hàng hoá là một phạm trù kinh tế phản ánh những mối quan hệ xã hội giữa những ngƣời sản xuất và trao đổi hàng hoá, sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó trở thành đối tƣợng mua bán trên thị trƣờng, hàng hoá có thể ở dạng hữu hình và dạng phi vật thể. Sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhằm thoả mãn yêu cầu của ngƣời tiêu dùng là thứ sản phẩm để trao đổi, thông qua lƣu thông trên thị trƣờng thực hiện giá trị và mang lại hiệu quả để tái sản xuất chứ không phải để tự cấp, tự túc, tự sản, tự tiêu. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hoá là hao phí lao động để tạo ra hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá là cơ sở chung của sự trao đổi, giá trị hàng hoá là biểu hiện quan hệ giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá.
Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị hàng hoá là nội dung là cơ sở của sự trao đổi. Ngƣời sản xuất làm ra hàng hoá để bán, nên mục đích của nó là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng. Trong tay ngƣời sản xuất có giá trị sử dụng nhƣng cái mà họ quan tâm là giá trị hàng hoá.
Ngƣời sản xuất chú ý đến giá trị sử dụng cũng chính là để đạt đƣợc mục đích giá trị. Ngƣợc lại, ngƣời mua cần có giá trị sử dụng, nhƣng muốn có giá trị sử dụng nhƣng trƣớc hết phải trả giá trị cho ngƣời sản xuất ra nó, tức là phải thực hiện đƣợc giá trị hàng hoá thì mới chi phối đƣợc giá trị sử dụng. Nhƣ vậy, giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất với nhau ở một hàng hoá. Quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về thời gian và không gian, quá trình thực hiện giá trị đƣợc tiến hành trƣớc và trên thị trƣờng, quá trình thực hiện giá trị sử dụng đƣợc diễn ra sau và trong lĩnh vực tiêu dùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Khái niệm về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá là qui luật khách quan của đa số hình thái kinh tế, phản ánh trình độ phát triển sản xuất đó và phân công lao động càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát triển, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội phù hợp. Việc duy trì hay thay đổi về cơ cấu ngành trồng trọt hay chăn nuôi không phải là mục tiêu mà là phƣơng thức cho sự tăng trƣởng và phát triển của nền kinh tế, mọi sự duy trì quá lâu hay thay đổi quá nhanh cơ cấu mà không tính đến thay đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đều gây những thiệt hại về kinh tế.