Mở đầu cho môi trường vĩ mô đó chính là yếu tố kinh tế của môi trường vĩ mô. Kinh tế bao gồm tăng trưởng GDP, cơ cấu thu nhập, lãi suất, tỉ lệ lạm phát, tỉ giá hối đoái và tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và thông qua những yếu tố này có thể xác định được nhu cầu của khách hàng, khả năng chi trả, thu nhập, tiết kiệm,. GDP năm 2020 đã tăng khoảng 2. Mặc dù đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây nhưng trước những tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 thì đây là một thành công của nước ta với tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm những nước cao nhất thế giới.
GDP 2 quý đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của năm ngoái cùng kỳ, tuy nhiên lại thấp hơn tốc độ tăng 7,05% và 6,77% của hai năm 2018 và 2019.1: GDP Việt Nam 10 năm trở lại đây (Nguồn: kinhtemoitruong.vn) Nhân tố thứ hai đó là thu nhập bình quân đầu người. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 giảm 2% so với 2019. Theo một báo cáo, ngành sữa được nhận định ít “nhạy cảm” hơn so với các ngành khác trong dịch Covid 19, tổng doanh thu ngành sữa năm 2020 có mức tăng trưởng 5% so với năm 2019. Do ảnh hưởng của dịch Covid nên hai chỉ số này có giảm đi, hi vọng sau đại dịch sẽ có chuyển biến tích cực hơn.
Cả hai yếu tố GDP và Thu nhập bình quân đầu người đều ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiêu thụ sữa của doanh nghiệp.2: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam 5 năm trở lại đây (Nguồn:vvfc) 14 Nhân tố thứ ba ảnh hưởng đến nền kinh tế đó là lạm phát. Lạm phát là yếu tố ảnh hưởng tới giá nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp, nguồn vốn đầu tư, và cuối cùng là ảnh hưởng đến tâm lý chi phối tiêu dùng của người dân làm thay đổi cơ cấu chi tiêu và tốc độ tiêu thụ của người tiêu dùng. Khi giá nguyên liệu tăng sẽ khiến cho giá sản phẩm tăng, và điều này sẽ ảnh hưởng đến tổng doanh thu trên thị trường. Tổng cục Thống kê cho biết, CPI bình quân năm 2020 tăng 3,23% so với bình quân năm 2019, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là lạm phát dưới 4% - chính phủ ta đã kiểm soát thành công lạm phát.
Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với 2 quý năm 2020, đây cũng là chỉ số lạm phát nhất kể từ năm 2016. Và nhân tố cuối cùng ảnh hưởng đến nền kinh tế là tỷ giá hối đoái.Tỷ giá hối đoái trong những năm gần đây có xu hướng ổn định, nếu tỷ giá tăng thì rất bất lợi cho TH true MILK vì giá đầu vào sẽ cao. Mặc dù hiện nay doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ về nguồn thức ăn cho bò, nhưng mà cả về công nghệ lẫn giống bò còn phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài như New Zealand, Hoa Kỳ, Hà Lan,. Yếu tố văn hóa xã hội Và việc phân tích yếu tố này liên quan đến khuynh hướng, thói quen tiêu dùng của khách hàng buộc doanh nghiệp phải linh hoạt chiến lược để đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất.
Xã hội ngày càng phát triển, trình độ học vấn, nhận thức về vấn đề y tế, sức khỏe vệ sinh an toàn thực phẩm được nâng cao, người tiêu dùng ngày càng trở nên khắt khe hơn đối với các sản phẩm về giá cả, chất lượng cũng như thông tin nhà sản xuất. Bên cạnh đó trên thị trường hiện nay tràn ngập nhiều nhãn hiệu sữa khác nhau cộng thêm các thông tin về các sản phẩm sữa có chữa các hóa chất như melamine khiến cho người tiêu dùng có tâm lý e dè hơn. Một trong những đặc điểm trong quan niệm của người Việt đó là thường trung thành với một nhãn hiệu và ít khi thay đổi thói quen tiêu dùng của mình. Và đây cũng là thách thức cho doanh nghiệp khi tạo dựng được sự tin tưởng, niềm tin về uy tín chất lượng để giữ chân khách hàng.
Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức của doanh nghiệp khi phải đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như tạo được lòng trung thành của khách hàng. Yếu tố chính trị pháp luật: Chính trị là một yếu tố có tầm ảnh hưởng khá lớn tác động đến sự phát triển của các doanh nghiệp của một quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Nó bao gồm các yếu tố như hệ thống pháp luật, thuế, các chính sách của chính phủ,. Tình hình chính trị ở Việt Nam những năm gần đây khá là ổn định, đây là nền tảng để phát triển kinh tế, giải quyết việc làm hay là tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội – cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp tục phát triển, cạnh tranh một cách hiệu quả lành mạnh.
Bên cạnh đó, nhà nước còn đưa ra những chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh: các chính sách trong việc khuyến khích chăn nuôi và chế biến bò sữa cho người nông dân – nguồn cung cấp lớn cho các công ty sữa, các chính phủ cũng đề ra những chính sách về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, khuyến khích mọi người dùng sữa để nâng cao sức khỏe, vóc dáng, trí tuệ, nhất là và người già và trẻ nhỏ. Hay là những chính sách về thuế - TH true MILK cũng nên tận dụng những cơ hội này để mở rộng quy mô kinh doanh của mình. Cụ thể, ngành sữa có được nhận ưu đãi trong luật khuyến khích đầu tư trong nước về thuế sử dụng đất, thuế nhập khẩu máy móc thiết bị, thuế thu nhập doanh nghiệp,… Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định kinh tế thế hệ mới, tiêu biểu phải kể đến như EVFTA, CPTPP, RCEP,. Các hiệp định thương mại được ký kết tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường mới, mở rộng thị phần, cũng như thu hút các nhà đầu tư, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao dây chuyền sản xuất.
Bên cạnh những cơ hội rộng mở, nó cũng mang đến những thách thức cho doanh nghiệp khi cạnh tranh với các sản phẩm sữa nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Yếu tố dân số Quy mô dân số hay tốc độ gia tăng dân số có tầm quan trọng ảnh hưởng đến cơ cấu doanh thu tiêu thụ sữa của doanh nghiệp. Theo Bộ Công Thương, trong một báo cáo thị trường của Euromonitor, năm 2020, tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa của Việt Nam đạt khoảng 1,76 triệu tấn, tăng trưởng 8,6% so với năm 2019. Nếu tính theo đầu người, Việt Nam hiện là quốc 16 gia có mức tiêu thụ sữa khá thấp, chỉ với 26-27 kg/người/năm ( thế giới đạt khoảng 100 kg/người/năm và các nước châu Á đạt 38 kg/người/năm).
Việt Nam có dân số khá đông, theo số liệu báo cáo của cục thống kê, dân số của VN năm 2019 là 96.46 triệu người, dân số năm 2020 là 97.3 triệu người, tốc độ gia tăng dân số là 0. Vì vậy ta có thể kết luận là thị trường tiêu thụ sữa khá lớn, các doanh nghiệp vẫn còn tiềm năng phát triển. Về khía cạnh cơ cấu dân số, ta chia làm hai khu vực đó là nông thôn và thành thị. Năm 2020, dân số khu vực thành thị là 36.7 triệu người chiếm 37.7% , trong khi đó, dân số khu vực nông thôn là 60,6 triệu người chiếm 62.
Qua đó, có thể thấy dân số ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng rất lớn. Vì vậy, doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến thị trường ở nơi này thông qua việc mở rộng thêm nhiều kênh phân phối bán lẻ, nghiên cứu các sản phẩm có giá cả vừa phải, hợp lý phù hợp với thu nhập với người dân ở khu vực này. Theo các kết quả nghiên cứu xã hội học, Việt Nam hiện đang trong thời kì dân số vàng, tuy nhiên dân số Việt Nam lại đang già hóa với tốc độ khá nhanh. Theo các chuyên gia , từ năm 2054 - 2069, VN sẽ trải qua giai đoạn dân số rất già, khi người từ 65 tuổi trở lên chiếm 20 - 29,9%.
Như vậy, để có thể mở rộng thị phần, cũng như phân khúc khách hàng, TH ngoài hướng đến các sản phẩm cho trẻ em - độ tuổi cần nhiều dinh dưỡng để phát triển, cũng nên chú ý đến phân khúc khách hàng trên 60. Doanh nghiệp có thể nghiên cứu, tìm tòi sản xuất ra các sản phẩm nhiều dinh dưỡng tốt cho tim mạch, trí não hay sữa có hàm lượng đường trong sữa thấp hơn vì người cao tuổi có khả năng mắc bệnh tiểu đường cao. Yếu tố công nghệ: Đây cũng là yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động doanh nghiệp. Khi bàn về yếu tố này ta có thể kể đến như là công nghệ sản xuất, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, những phần mềm quản trị, xu hướng khách hàng sử dụng Internet,.
Với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các doanh nên tận dụng những cơ hội này để nhập khẩu, nâng cấp những máy móc mới và dựa trên cơ sở này để nghiên cứu tìm ra những công nghệ này để tìm ra công thức chế biến mới phù hợp với những khẩu vị khác nhau. Đây cũng là thách thức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường nhanh hơn, tìm hiểu nhu cầu khách hàng 17 Bên cạnh đó, việc cải thiện khả năng sản xuất sẽ giảm chi phí thuê nhân công, từ đó giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí hoạt động dẫn đến giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. ➢ Kết luận Qua các phân tích ở trên ta có thể thấy môi trường bên ngoài hội tụ những yếu tố để doanh nghiệp phát triển: nền kinh tế tiến triển tích cực, lạm phát được giữ ở mức ổn định, các chính sách của chính phủ khuyến khích ngành sữa, tạo điều kiện cho các chủ sản xuất kinh doanh, tỷ giá hối đoái ở mức ổn định thị trường tiêu thụ sữa khá lớn (cả trong và ngoài nước), thêm vào đó là những tiến bộ về công nghệ sản xuất - những yếu tố này sẽ là một chất xúc tác thúc đẩy ngành sữa tiếp tục phát triển ở một tầm cao hơn trong những năm tới. Tuy nhiên người tiêu dùng càng chú ý đến sức khỏe, nhất là các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn do đó doanh nghiệp phải chú trọng về chất lượng cũng như cải tiến sản phẩm để có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt nhất.
Phân tích môi trường vi mô a.