Tổng quan nghiên cứu

Huyện Yên Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh có tổng diện tích tự nhiên là 9.686 ha, trong đó diện tích đất trong đê cần tiêu úng chiếm tới 8.966 ha (tương đương 92,6% diện tích toàn huyện). Nằm trọn trong vùng châu thổ sông Hồng và thuộc hệ thống thủy nông Bắc Đuống, khu vực này chịu áp lực tiêu thoát nước vô cùng lớn trong mùa mưa lũ. Theo thống kê giai đoạn 2010 - 2013, bình quân diện tích bị úng ngập hàng năm của toàn huyện là 1.495 ha, chiếm 16,6% tổng diện tích cần tiêu và chiếm tới 26,2% diện tích đất canh tác nông nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hạ tầng thủy lợi được xây dựng từ những năm 1960 đã xuống cấp nghiêm trọng sau hơn nửa thế kỷ vận hành. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng với sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp tập trung (dự kiến đạt 2.081 ha vào năm 2020) đã làm thu hẹp đáng kể các đầm trũng trữ nước tự nhiên. Đồng thời, tác động của biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất các trận mưa cực đoan kết hợp lũ sông Cầu dâng cao trên mức báo động số 3, khiến hình thức tiêu tự chảy bị tê liệt hoàn toàn.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng 48 trạm bơm tiêu và mạng lưới sông trục kênh mương; ứng dụng các mô hình tính toán thủy văn, thủy lực hiện đại để kiểm tra cán cân tiêu thoát nước với tần suất thiết kế 10%; từ đó thiết lập quy trình quản lý vận hành tiêu khoa học cho 3 khu tiêu trọng điểm gồm Vọng Nguyệt (1.948 ha), Phấn Động (2.155 ha) và Vạn An (5.164 ha). Nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ an toàn sản xuất cho 5.600 ha đất trồng lúa, đảm bảo hạ tầng cho các khu công nghiệp trọng điểm và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thủy lực dòng chảy không ổn định trong hệ thống kênh sông hở, mô tả qua hệ phương trình vi phân Saint-Venant một chiều. Lý thuyết này cho phép mô phỏng chính xác sự biến đổi của lưu lượng và mực nước theo không gian và thời gian dọc theo 27 km trục sông chính Ngũ Huyện Khê và 44,08 km kênh tiêu cấp I. Đồng thời, tác giả áp dụng lý thuyết mô hình thủy văn mưa - dòng chảy dạng bể chứa NAM nhằm mô phỏng quá trình hình thành dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm và lượng trữ ẩm trong đất từ các trận mưa thiết kế.

Về phương pháp tính toán tiêu úng nông nghiệp và công nghiệp, luận văn vận dụng lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng và tiêu chuẩn thiết kế thủy lợi hiện hành theo Quyết định số 93/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu tập trung làm rõ 5 khái niệm cốt lõi:

  • Hệ số tiêu thiết kế: Lưu lượng nước cần tiêu trên một đơn vị diện tích (l/s/ha) ứng với chu kỳ lặp lại thiết kế.
  • Tiêu động lực: Giải pháp sử dụng trạm bơm cơ điện để cưỡng bức tháo nước khi mực nước ngoài sông cao hơn nội đồng.
  • Tiêu tự chảy: Hình thức tháo nước qua cống nhờ chênh lệch cột nước tự nhiên khi mực nước sông ngoài thấp.
  • Mực nước đệm: Cao trình mực nước khống chế trong hệ thống kênh trục trước khi có mưa bão để tạo dung tích phòng lũ.
  • Phân vùng tiêu: Phân chia lưu vực thủy lợi dựa trên địa hình, hướng thoát nước và công trình đầu mối tiếp nhận.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập toàn diện từ chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn liên tục suốt 54 năm (từ năm 1960 đến năm 2014) tại các trạm Bắc Ninh, Đáp Cầu và Đặng Xá. Số liệu bao gồm lượng mưa ngày, nhiệt độ trung bình năm 23,5°C, độ ẩm 81,6%, lượng bốc hơi 950,6 mm/năm, cùng số liệu mực nước lớn nhất lịch sử đo được tại Đáp Cầu là 8,09 m vào tháng 8 năm 1971. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ chuỗi số liệu thực đo dài hạn kết hợp khảo sát thực địa 100% các công trình đầu mối gồm 48 trạm bơm tiêu và toàn bộ 11 tuyến kênh tiêu cấp I trên địa bàn 14 xã, thị trấn.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên nguyên tắc điều tra toàn bộ hiện trạng kỹ thuật công trình thủy lợi, địa hình đáy sông và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 trên bản đồ GIS tỷ lệ 1/25.000. Để xử lý dữ liệu, tác giả ứng dụng bộ phần mềm mô hình toán MIKE 11 tích hợp module MIKE-NAM do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển. Lý do lựa chọn bộ công cụ này vì đây là phần mềm chuẩn quốc tế có độ tin cậy rất cao, xử lý tối ưu bài toán mạng sông phức tạp có sự tương tác giữa nhiều trạm bơm tiêu và các cống ngăn triều vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về năng lực tiêu thoát nước của hệ thống công trình đầu mối hiện hữu. Tổng số 48 trạm bơm tiêu trên toàn huyện chỉ đảm bảo hệ số tiêu bình quân thực tế đạt 5,9 l/s/ha, thấp hơn đáng kể so với yêu cầu quy hoạch mới là 6,28 l/s/ha đối với đất nông nghiệp và 18,5 l/s/ha đối với đất công nghiệp. Tại khu tiêu Vọng Nguyệt, trạm bơm mới chỉ đạt công suất 5,2 l/s/ha; khu tiêu Phấn Động đạt 5,7 l/s/ha. Hệ quả là hệ thống chỉ đáp ứng tiêu thoát được cho 7.120 ha, đạt gần 80% diện tích cần tiêu, khiến 1.495 ha thường xuyên rơi vào tình trạng ngập úng nghiêm trọng.

Thứ hai, kết quả mô phỏng thủy lực chứng minh hình thức tiêu tự chảy qua cống đầu mối Đặng Xá hoàn toàn không khả thi trong mùa lũ thiết kế. Với tần suất mưa lũ thiết kế 10%, mực nước lũ trên sông Cầu tại các trạm Đáp Cầu và Phúc Lộc Phương dao động từ +6,8 m đến +6,9 m, trong khi cao trình an toàn của hệ thống đê sông Ngũ Huyện Khê chỉ giới hạn ở mức +6,9 m. Khi mực nước sông ngoài dâng cao, cống Đặng Xá (gồm 3 cửa kích thước 2,87 m x 2,87 m và 2 cửa kích thước 1,9 m x 2,3 m) buộc phải đóng kín, chuyển hoàn toàn trách nhiệm tiêu thoát sang cụm 34 máy bơm của trạm bơm Đặng Xá với tổng lưu lượng 136.000 m3/h.

Thứ ba, sự suy giảm nghiêm trọng dung tích trữ tự nhiên do áp lực chuyển đổi đất đai. Diện tích đất công nghiệp tăng từ 500 ha lên 2.081 ha làm tăng hệ số dòng chảy mặt lên 2,5 lần so với đất nông nghiệp. Đồng thời, hơn 44,08 km kênh tiêu cấp I bị bồi lắng và lấn chiếm trái phép bởi rác thải, nhà ở và lò gạch, làm suy giảm từ 20% đến 30% khả năng dẫn dòng tại các tuyến trọng điểm như kênh Đông Thọ 1 (dài 5,6 km) và kênh Vạn An (dài 4,5 km).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng úng ngập kéo dài là do sự bất cập giữa quy mô công trình cũ với biến động thủy văn cực đoan và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Khi xuất hiện mưa 5 ngày lớn nhất với lượng mưa trên 201 mm kết hợp lũ sông ngoài dâng cao, hệ thống kênh trục nội đồng lập tức bị quá tải. So sánh với các nghiên cứu thủy lực tại lưu vực sông Đáy và sông Nhuệ, kết quả nghiên cứu tại Yên Phong hoàn toàn tương đồng khi khẳng định việc gia tăng diện tích bê tông hóa làm rút ngắn thời gian tập trung dòng chảy lũ và tăng đỉnh lũ nội đồng.

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, các kết quả tính toán thủy lực được chuẩn hóa và hiển thị trực quan thông qua đồ thị so sánh đường quá trình mực nước tính toán và thực đo tại trạm Đáp Cầu, thể hiện độ sai số tương đối dưới 5%. Ngoài ra, kết quả phân vùng tiêu và lưu lượng thiết kế tại từng nút tiêu được tổng hợp chi tiết qua hệ thống bản đồ số GIS và các bảng tra thủy lực, giúp các kỹ sư dễ dàng xác định thời gian mở máy bơm tối ưu cho từng vùng trũng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ công trình đầu mối và bổ sung công suất bơm tiêu. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh cùng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống cần ưu tiên đầu tư cải tạo các trạm bơm tại khu vực Vọng Nguyệt, Phấn Động và Vạn An. Mục tiêu nâng hệ số tiêu toàn hệ thống đạt mức 6,28 l/s/ha cho đất nông nghiệp và 18,5 l/s/ha cho các khu công nghiệp, đảm bảo diện tích tiêu chủ động đạt 100% (8.966 ha) trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ hai, thực hiện kiên cố hóa và giải tỏa ách tắc lòng dẫn. Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong cùng các xã ven sông cần tổ chức nạo vét toàn diện 27 km sông Ngũ Huyện Khê và 44,08 km kênh tiêu cấp I, đặc biệt là các tuyến kênh Đông Thọ, Phù Cầm, Thọ Đức. Cần xử lý dứt điểm các trường hợp lấn chiếm hành lang công trình thủy lợi, giải tỏa các lò gạch và bãi rác trước cửa cống Đặng Xá trước ngày 15 tháng 4 hàng năm nhằm khôi phục hoàn toàn mặt cắt thiết kế.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình vận hành phân tầng linh hoạt cho cụm đầu mối Đặng Xá. Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống cần áp dụng quy trình vận hành 3 cấp độ:

  • Mùa khô: Vận hành cống tiêu tự chảy kết hợp tưới tiêu luân phiên sau mỗi đợt cấp nước.
  • Mùa mưa bình thường: Đóng cống Đặng Xá khi mực nước sông Cầu vượt mức +6,75 m, duy trì mực nước sông Ngũ Huyện Khê dưới +6,7 m.
  • Mùa mưa bão khẩn cấp: Thực hiện bơm vợi hạ thấp mực nước đệm nội đồng ngay từ cao trình +4,5 m khi có dự báo bão hoặc mực nước lũ sông Cầu dâng nhanh trên 20 cm/h.

Thứ tư, bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đầm trũng và quy hoạch hồ điều hòa. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Phong cần duy trì tối thiểu 574,9 ha đất mặt nước chuyên dùng và ao hồ tự nhiên. Nghiêm cấm mọi hành vi san lấp đất mặt nước tại các xã trọng điểm ngập úng như Tam Giang, Hòa Tiến, Thụy Hòa và Vạn An, đảm bảo dung tích trữ đệm đạt trên 1,5 triệu m3 nước khi xảy ra mưa lớn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và tài nguyên nước, cụ thể là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh, Chi cục Thủy lợi và Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để thẩm định, phê duyệt các quy hoạch phát triển thủy lợi giai đoạn trung và dài hạn.

Nhóm thứ hai là các đơn vị trực tiếp quản lý và khai thác công trình thủy lợi, tiêu biểu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống và Xí nghiệp Thủy nông Yên Phong. Đơn vị có thể ứng dụng trực tiếp bảng thông số và quy trình vận hành 48 trạm bơm tiêu trong công tác ứng phó thiên tai hàng năm.

Nhóm thứ ba là các chủ đầu tư, ban quản lý các khu công nghiệp tập trung như Khu công nghiệp Yên Phong I, Yên Phong II và các kỹ sư quy hoạch đô thị. Tài liệu giúp xác định chính xác lưu lượng xả thải cực đại và tính toán kích thước mạng lưới cống ngầm theo hệ số tiêu chuẩn 18,5 l/s/ha.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Thủy văn, Thủy lực công trình tại các trường đại học và viện nghiên cứu. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng mô hình toán MIKE 11 kết hợp GIS trong phân vùng và quản lý tiêu úng lưu vực sông.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống thủy lợi huyện Yên Phong đảm nhận nhiệm vụ tiêu thoát nước cho phạm vi diện tích như thế nào?
Hệ thống chịu trách nhiệm tiêu thoát nước cho 8.966 ha đất trong đê trên tổng số 9.686 ha đất tự nhiên của toàn huyện Yên Phong (chiếm tỷ lệ 92,6%). Toàn bộ lưu vực được phân định thành 3 khu tiêu độc lập gồm khu Vọng Nguyệt (1.948 ha), khu Phấn Động (2.155 ha) và khu Vạn An (5.164 ha, bao gồm cả 411 ha của thành phố Bắc Ninh).

Tại sao biện pháp tiêu tự chảy không thể phát huy hiệu quả trong mùa lũ tại địa bàn huyện Yên Phong?
Do địa hình huyện khá thấp với cao độ phổ biến từ +2,5 m đến +5,0 m, trong khi mực nước lũ sông Cầu mùa mưa ứng với tần suất thiết kế 10% tại Đáp Cầu thường xuyên vượt ngưỡng +6,8 m đến +6,9 m. Đồng thời, đê sông Ngũ Huyện Khê chỉ chịu tải tối đa +6,9 m nên cống tiêu Đặng Xá buộc phải đóng kín để ngăn nước tràn ngược, bắt buộc phải tiêu bằng trạm bơm điện.

Hệ số tiêu thiết kế mới được tính toán cho đất nông nghiệp và đất công nghiệp là bao nhiêu?
Theo kết quả tính toán thủy lực phù hợp với quy hoạch phát triển thủy lợi của tỉnh Bắc Ninh, hệ số tiêu thiết kế ứng với tần suất 10% được xác định là 6,28 l/s/ha đối với đất nông nghiệp và đất khác (theo mô hình mưa 5 ngày tiêu trong 7 ngày), và đạt 18,5 l/s/ha đối với các khu đô thị và khu công nghiệp (theo mô hình mưa 1 ngày lớn nhất).

Trạm bơm tiêu Đặng Xá được kích hoạt vận hành dựa trên những điều kiện kỹ thuật cụ thể nào?
Trạm bơm Đặng Xá gồm 34 tổ máy với tổng công suất 136.000 m3/h được kích hoạt khi: cống Đặng Xá đóng và mực nước sông Ngũ Huyện Khê đạt từ +5,5 m trở lên; hoặc khi có tin bão, áp thấp nhiệt đới và mực nước ngoài sông dâng nhanh trên 20 cm/h thì tiến hành bơm vợi hạ nước đệm ngay từ cao trình +4,5 m.

Mô hình toán học nào đã được tác giả lựa chọn để mô phỏng chế độ thủy lực của hệ thống kênh tiêu?
Tác giả ứng dụng bộ phần mềm MIKE 11 tích hợp module thủy văn MIKE-NAM của Viện Thủy lực Đan Mạch kết hợp bản đồ số GIS tỷ lệ 1/25.000. Mô hình khai thác dữ liệu khí tượng thủy văn 54 năm (1960 - 2014) để mô phỏng chính xác chế độ dòng chảy không ổn định dọc theo 27 km sông Ngũ Huyện Khê và 44,08 km kênh tiêu cấp I.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Yên Phong phục vụ tiêu thoát nước cho 8.966 ha diện tích tự nhiên, nhận diện rõ sự quá tải của 48 trạm bơm hiện hữu.
  • Xác định chính xác nguyên nhân ngập úng trung bình 1.495 ha đất hàng năm do công suất trạm bơm chỉ đạt 5,9 l/s/ha và sự suy giảm khả năng tiêu tự chảy khi lũ sông Cầu vượt mức +6,8 m.
  • Ứng dụng thành công mô hình thủy lực MIKE 11 để xác lập hệ số tiêu thiết kế mới đạt 6,28 l/s/ha cho nông nghiệp và 18,5 l/s/ha cho các khu công nghiệp tập trung.
  • Xây dựng hoàn chỉnh quy trình vận hành phân tầng cho cụm công trình đầu mối Đặng Xá (34 tổ máy bơm x 4.000 m3/h) ứng với từng kịch bản thời tiết mùa khô, mùa mưa và đón lũ khẩn cấp.
  • Đề xuất giải pháp bảo vệ 574,9 ha diện tích mặt nước điều hòa và kiên cố hóa 44,08 km kênh tiêu cấp I nhằm đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học chính xác và bộ quy trình vận hành công trình thủy lợi thực tiễn, giải quyết triệt để bài toán ngập úng trong bối cảnh công nghiệp hóa mạnh mẽ. Các đơn vị quản lý cần sớm triển khai thử nghiệm quy trình này trong mùa mưa bão sắp tới và hoàn thành lộ trình nâng cấp hạ tầng thủy lợi toàn huyện vào năm 2020. Bạn có thể sử dụng lệnh /plan để tiếp tục lập kế hoạch chi tiết cho các dự án nghiên cứu và cải tạo công trình thủy lợi liên quan.